vanban.org

Bản án 17/2019/DSST-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng buộc bà Hoàng Thị H và ông Nguyễn Duy X có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng tổng số tiền tính đến ngày 22/11/2019, tổng số tiền là: 242.

Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng buộc bà Hoàng Thị H, ông Nguyễn Duy X phải trả lãi chậm trả (tính đến ngày 14/8/2019 là 20.955.456 đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - bà Hoàng Thị H"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng buộc bà Hoàng Thị H và ông Nguyễn Duy X có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng tổng số tiền tính đến ngày 22/11/2019, tổng số tiền là: 242.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƢNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/DSST-ST
Ngày 22/11/2019
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành.

* Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đình Cự.

2. Bà Nguyễn Thị Là.

* Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên toà:

Bà Lại Thị Giang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2019/TLST-DSST ngày 14 tháng 8 năm 2019, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXX-ST ngày 07 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vƣợng (VP Bank)

Địa chỉ: Số 89, phố Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A - Chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm pháp luật ngân hàng SME và cá nhân.

- Người được ông Phạm Tuấn A ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng:

Ông Nguyễn Huy Đ – Trưởng bộ phận xử lý nợ VPBank AMC

Ông Phạm Tuấn A – Chuyên viên xử lý nợ VPBank AMC

Địa chỉ: Tầng 3, VPBank chi nhánh Kỳ Bá, số 225G phố Hai Bà Trưng, phường Lê Hồng Phong, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

* Bị đơn: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1975

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Duy X, sinh năm 1974

Đều trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

(Ông T có mặt, bà H, ông X vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện ngày 02/5/2019; Bản tự khai ngày 14/8/2019 và tại phiên tòa ông Phạm Tuấn A ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Hoàng Thị H vay tiền của Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) – Chi nhánh Thái Bình theo Hợp đồng vay tín chấp là “Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số LD1622200344” ngày 26/7/2016, cụ thể như sau:

Hợp đồng tín dụng số: “Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CN/VN0010319/201701/51” (gọi tắt là hợp đồng tín dụng số LD1704400647) ngày giải ngân 26/7/2016:

- Số tiền vay: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

- Thời hạn vay: 48 tháng, tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên.

- Mục đích sử dụng vốn: Vay tiêu dùng.

- Hình thức vay vốn: Vay tín chấp không có tài sản bảo đảm.

- Lãi suất ban đầu: 33%/năm, điều chỉnh 03 tháng/lần theo quy định của VPBank.

- Biên độ (+)25%/năm.

- Lãi suất quá hạn: tính bằng 150% lãi suất trong hạn.

- Giải ngân ngày 09/8/2016.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Hoàng Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với VPBank từ ngày 09/01/2018, theo đó khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 22/11/2019 bà H còn nợ tổng số nợ là: 242.742.573 đồng (trong đó: Dư nợ gốc là 153.492.837 đồng; Lãi phải trả (lãi quá hạn) là 89.249.736 đồng).

Đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc bà Hoàng Thị H và ông Nguyễn Duy X phải thanh toán cho VPBank toàn bộ số nợ theo Hợp đồng đã ký, tính đến ngày 22/11/2019 tổng số nợ là: 242.742.573 đồng (trong đó: Dư nợ gốc là 153.492.837 đồng; Lãi phải trả (lãi quá hạn) là 89.249.736), không yêu cầu bà H, ông X phải chịu lãi chậm trả và tiếp tục tính lãi (trong hạn và quá hạn) theo đúng các nội dung đã thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký tạm đến khi bà Hoàng Thị H và ông Nguyễn Duy X thanh toán được toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đối với VPBank.

2. Đối với bị đơn bà Hoàng Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Duy X Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã căn cứ vào các Điều 173, 179 Bộ luật tố tụng dân sự niêm yết các văn bản theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan việc chấp hành pháp luật là chưa nghiêm chỉnh.

- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) buộc bà H, ông X phải trả cho Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng tổng số tiền tính đến ngày 22/11/2019 là: 242.742.573 đồng (trong đó: Dư nợ gốc là 153.492.837 đồng; Lãi phải trả (lãi quá hạn) là 89.249.736). Chấp nhận việc Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) rút yêu cầu buộc bà H, ông X phải trả phần lãi còn phải trả, đề nghị HĐXX đình chỉ yêu cầu này.

- Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) được chấp nhận nên buộc bà H, ông X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét toàn bộ các tài liệu chứng cứ và ý kiến của các đương sự tại các lời khai và tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có nơi cư trú tại huyện Đông Hưng nên căn cứ vào Điều 26; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có thẩm quyền giải quyết là đúng pháp luật.

- Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật. Đối với bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan việc chấp hành pháp luật là chưa nghiêm chỉnh, Tòa án căn cứ vào Điều 173, 179 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 01/11/2019 bà H, ông X vắng mặt nên HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự hoãn phiên tòa lần thứ nhất. Tại phiên tòa ngày 22/11/2019 bà H, ông X tiếp tục vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt bà H, ông X.

Về pháp luật áp dụng: Hợp đồng giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng và bà Hoàng Thị H được thực hiện năm 2016 nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết.

Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng và bà Hoàng Thị H phát sinh từ việc vay tín chấp nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và Luật các tổ chức tín dụng, HĐXX xác định tranh chấp giải quyết là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Về nội dung:

Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng, thấy rằng:

Ngày 26/7/2016, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đã duyệt vay cho bà Hoàng Thị H theo giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở & sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử với nội dung sau: Số tiền vay: 200.000.000 đồng; Thời hạn vay: 48 tháng; Lãi suất cho vay trong hạn và cơ chế điều chỉnh lãi suất thực hiện theo phê duyệt cho vay của VPBank.

Đến hạn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đã đôn đốc nhiều lần nhưng bà Hoàng Thị H mới trả được một phần, tính đến ngày 22/11/2019, bà Hoàng Thị H còn nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam tổng số tiền là: 242.742.573 đồng (trong đó: Dư nợ gốc là 153.492.837 đồng; Lãi phải trả (lãi quá hạn) là 89.249.736).

Về lãi suất cho vay: Đây là hợp đồng vay giữa tổ chức tín dụng với cá nhân nên lãi suất được áp dụng theo hợp đồng tín dụng giữa hai bên đã ký kết theo hướng dẫn tại Điều 7,8 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên cần chấp nhận yêu cầu này của VPBank buộc bà H phải thanh toán số tiền nợ lãi phải trả tính từ thời điểm VPBank chuyển sang nợ quá hạn theo mức lãi suất nợ quá hạn tạm tính đến thời điểm xét xử (22/11/2019) tổng số tiền là: 242.742.573 đồng (trong đó: Dư nợ gốc là 153.492.837 đồng; Lãi phải trả(lãi quá hạn) là 89.249.736).

Buộc bà H phải tiếp tục trả lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày bà Hoàng Thị H thực tế thanh toán hết nợ tại VPBank.

Về tính pháp lý của các hợp đồng:

Tại thời điểm ký kết Hợp đồng tín dụng là “Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số LD1622200344” ngày 26/7/2016 và các văn bản kèm theo giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng và bà Hoàng Thị H thì Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng có đầy đủ tư cách pháp nhân; bà Hoàng Thị H có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; Các bên hoàn toàn tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc, vì vậy Hợp đồng tín dụng là “Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số LD1622200344” ngày 26/7/2016 và các văn bản kèm theo giữa các bên được thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đã có thông báo và đôn đốc nhiều lần nhưng bà H, ông X đều trốn tránh nghĩa vụ trả nợ không giữ đúng thỏa thuận, cam kết. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh về nơi cư trú cũng như sự có mặt của bà H, ông X, Tòa án đã đến gia đình gặp bà H nhưng bà H trốn tránh, không hợp tác. Trên cơ sở các tài liệu do nguyên đơn xuất trình và Tòa án thu thập xác định việc khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng là có căn cứ, đúng pháp luật nên buộc bà Hoàng Thị H và ông Nguyễn Duy X phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng tính đến ngày 22/11/2019, tổng số tiền là: 242.742.573 đồng (trong đó: Dư nợ gốc là 153.492.837 đồng; Lãi phải trả (lãi quá hạn) là 89.249.736; Lãi chậm trả là: 0 đồng).

Tính đến ngày xét xử (22/11/2019) bà Hoàng Thị H còn nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng tổng số tiền là: 242.742.573 đồng (trong đó: Dư nợ gốc là 153.492.837 đồng; Lãi phải trả (lãi quá hạn) là 89.249.736).

Đối với lãi chậm trả tính đến ngày 14/8/2019, Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng yêu cầu bà H phải trả nợ khoản lãi còn phải trả là 20.955.456 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa đại diện nguyên đơn rút yêu cầu không buộc bà Hoàng Thị H, ông Nguyễn Duy X phải trả khoản lãi trên cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng nên cần được chấp nhận và đình chỉ đối với yêu cầu đòi lãi chậm trả của Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng.

Về án phí:

- Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Bà Hoàng Thị H và ông Nguyễn Duy X phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 429; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng buộc bà Hoàng Thị H và ông Nguyễn Duy X có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng tổng số tiền tính đến ngày 22/11/2019, tổng số tiền là: 242.742.573 đồng (trong đó: Dư nợ gốc là 153.492.837 đồng; Lãi phải trả (lãi quá hạn) là 89.249.736).

2. Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng buộc bà Hoàng Thị H, ông Nguyễn Duy X phải trả lãi chậm trả (tính đến ngày 14/8/2019 là 20.955.456 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng thì lãi suất mà bà Hoàng Thị H và ông Nguyễn Như X phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng.

2. Về án phí:

- Bà Hoàng Thị H và ông Nguyễn Duy X phải chịu 12.137.128 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả lại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng số tiền 5.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình theo biên lai thu số 0008124 ngày 13/8/2019.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ