vanban.org

Bản án 17/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/06/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cƣ́ Điều 463, 466, 357, 468, 470 của Bộ luật Dân sự 2015;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ đối với bị đơn bà Trƣơng Ngọc N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc bà Trƣơng Ngọc N phải thanh toán cho ông Đoàn Văn Đ số tiền 740.787.600 đồng (bảy trăm bốn mƣơi triệu bảy trăm tám mƣơi bảy nghìn sáu trăm đồng), trong đó gồm 580… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "ÔNG ĐOÀN VĂN Đ KHỞI KIỆN BÀ TRƯƠNG NGỌC N"
  • Tòa quyết gì? Căn cƣ́ Điều 463, 466, 357, 468, 470 của Bộ luật Dân sự 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 17/2019/DS-ST
Ngày 28-6-2019
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Châu Hồng Nga;

2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân th ị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 59/2019/TLST-DS ngày 26/02/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐXXST-DS ngày 21/5/2019, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số 15 Trƣơng Văn H, khu phố 2, phƣờng T, quận 9, Thành phố M. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Trƣơng Ngọc N, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số 12/6, khu phố P, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/02/2019, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 12/6/2019, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ trình bày:

Ngày 10/8/2017, nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mƣơi triệu đồng), việc vay tiền đƣợc thể hiện tại giấy vay tiền (kiêm giấy biên nhận tiền vay), lãi suất vay 3%/tháng, thời hạn vay từ ngày 10/8/2017 đến ngày 10/12/2020. Nhƣng nếu quá 01 tháng mà không trả lãi thì thời hạn nêu trên không còn giá trị nữa. Bên vay phải trả ngay vốn đã nhận. Để làm tin, bà Trƣơng Ngọc N thế chấp cho ông Đoàn Văn Đ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH 05985 do Ủy ban nhân dân thị xã D, tỉnh B cấp ngày 05/11/2013, diện tích 1087,4m2 thuộc thửa đất số 1428, tờ bản đồ C2.3, tọa lạc khu phố P, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B cho bà Trƣơng Ngọc N.

Bà N đã trả lãi từ ngày 10/8/2017 đến ngày 10/02/2018, cụ thể: 250.000.000 đồng x 6 tháng x 3%/tháng = 45.000.000 đồng. Từ ngày 10/02/2018 đế nay bà N không trả thêm bất kỳ khoản gốc và lãi nào.

Ngày 10/02/2018, bà N vay thêm 350.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, thời hạn vay từ ngày 10/02/2018 đến ngày 10/12/2020, việc vay tiền thể hiện tại giấy vay tiền (kiêm giấy biên nhận tiền vay), đối với khoản tiền vay này bà N chƣa thanh toán bất kỳ khoản tiền gốc và lãi nào.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền gốc đã vay 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) và yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật cho đến ngày xét xử sơ thẩm (tạm tính 12 tháng) x 600.000.000 đồng x 20%/năm = 120.000.000 đồng. Tổng cộng 720.000.000 đồng (bỷ trăm hai mƣơi triệu đồng).

Tại đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 12/6/2019, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc 580.000.000 đồng (năm trăm tám mƣơi triệu đồng) và lãi suất 20%/năm kể từ ngày 10/02/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Giấy vay tiền (kiêm giấy biên nhận tiền vay) ngày 10/8/2017 và ngày 10/02/2018 có chữ ký của bà Trƣơng Ngọc N.

Quá trình tố tụng , bị đơn bà Trƣơng Ngọc N đã đƣợc Tòa án tống đạt thông báo thụ lý , triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 14/5/2019 và tham gia phiên tòa vào các ngày 10/6/2019 và ngày 28/6/2019 nhƣng bà Trƣơng Ngọc N không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Hồng P là vợ của ông Đoàn Văn Đ. Qúa trình tố tụng, bà P xác định không liên quan gì đến số tiền ông Đ cho bà N vay, đồng thời bà P đề nghị Tòa án không đƣa bà vào tham gia vụ án với tƣ cách là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, Tòa án không đƣa bà P vào tham gia vụ án với tƣ cách là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn bà Trƣơng Ngọc N đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng bà N vắng mặt. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung: Căn cứ vào giấy vay tiền (kiêm giấy biên nhận tiền vay) ngày 10/8/2017 và ngày 10/02/2018 có cơ sở xác định bà Trƣơng Ngọc N vay số tiền 600.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 10/12/2020 nhƣng do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả lãi nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh tóan tiền nợ gốc 600.0000.000 đồng là có căn cứ.

Tuy nhiên, nguyên đơn thừa nhận đã nhận lãi của bị đơn đối với số tiền 250.000.000 đồng x 6 tháng x 3%/tháng = 45.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 thì “…trƣờng hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không đƣợc vƣợt quá 20%/năm của khoản tiền vay,…”. Nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận 3%/tháng (tƣơng đƣơng 36%/năm). Do đó, phần lãi suất vƣợt quá mức lãi suất 20%/năm không đƣợc chấp nhận. Mức lãi suất nguyên đơn đƣợc chấp nhận là 250.000.000 đồng x 6 tháng x 1,67%/tháng = 25.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nhận tiền lãi 45.000.000 đồng – 25.000.000 đồng = 20.000.000 đồng nên tự nguyện khấu trừ tiền lãi đã nhận 20.000.000 đồng vào tiền nợ gốc. Nhƣ vậy, số tiền nợ gốc còn lại đối với giấy vay ngày 10/8/2017 là 230.000.000 đồng, xét đây là ý chí tự nguyện của đƣơng sự, phù hợp với Điều 5 Bộ luật tố tụng Dân sự và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Nhƣ vậy, tổng số tiền nợ gốc bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn theo giấy vay tiền ngày 10/8/2017 và ngày 10/02/2018 là 580.000.000 đồng.

Nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất 20%/năm (tƣơng đƣơng 1,67%/tháng) đối với số tiền nợ gốc 580.000.000 đồng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể: 580.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 16 tháng 18 ngày (từ ngày 10/02/2018 đến ngày 28/6/2019 là ngày xét xử sơ thẩm) = 160.787.600 đồng.

Quá trình tố tụng, bị đơn đã đƣợc Tòa án niêm yết giấy triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhƣng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có văn bản nào thể hiện ý kiến của bị đơn về việc không thừa nhận chữ ký của mình trong hai giấy vay tiền (kiêm giấy biên nhận tiền vay) ngày 10/8/2017 và ngày 10/02/2018, đồng thời bị đơn cũng không xuất trình chứng cứ chứng minh bị đơn không vay nợ của nguyên đơn hoặc đã thanh toán xong các khoản nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả tiền đã vay 580.000.000 đồng và tiền lãi đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ để chấp nhận.

Đối với bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguyên đơn đang giữ của bị đơn thấy rằng, đây là quan hệ vay mƣợn giữa cá nhân với cá nhân, ông Đ không có giấy phép đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực cầm cố, thế chấp tài sản, do đó cần buộc ông Đ trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn.

Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đoàn Văn Đ không phải chịu. Bà Trƣơng Ngọc N phải chịu án phí theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cƣ́ Điều 463, 466, 357, 468, 470 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ đối với bị đơn bà Trƣơng Ngọc N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc bà Trƣơng Ngọc N phải thanh toán cho ông Đoàn Văn Đ số tiền 740.787.600 đồng (bảy trăm bốn mƣơi triệu bảy trăm tám mƣơi bảy nghìn sáu trăm đồng), trong đó gồm 580.000.000 đồng (năm trăm tám mƣơi triệu đồng) tiền nợ gốc và 160.787.600 đồng (một trăm sáu mƣơi triệu bảy trăm tám mƣơi bảy ngàn sáu trăm đồng) tiền lãi.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc ông Đoàn Văn Đ phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH 05985 do Ủy ban nhân dân thị xã D, tỉnh B cấp ngày 05/11/2013, diện tích 1087,4m2 thuộc thửa đất số 1428, tờ bản đồ C2.3 tọa lạc khu phố P, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B cho bà Trƣơng Ngọc N.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Trƣơng Ngọc N phải nộp 33.631.504 đồng (ba mƣơi ba triệu sáu trăm ba mƣơi mốt nghìn năm trăm lẻ bốn đồng).

- Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh B hoàn trả cho ông Đoàn Văn Đ 16.400.000 đồng (mƣời sáu triệu bốn trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0028107, ngày 26/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh B.

3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

4. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ