- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "Công ty cổ phần cao su Đ - Trần Nhân N"
- Căn cứ chính? Điều 12 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự Áp dụng
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK TỈNH ĐẮK LẮK ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:17a/2019/DS-ST Ngày: 11/7/2019. V/v kiện đòi lại đất bị lấn chiếm. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Y Bhiu Mlô
2. Ông Trương Quang Chinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên toà:
Ông Trần Văn Ngọc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11/7/2019, taïi truï sôû Toøa aùn nhaân daân huyện Krông Búk xeùt xöû sô thaåm coâng khai vuï aùn thuï lyù soá: 122/2017/TLST-DS ngaøy 16 thaùng 11 naêm 2017 veà vieäc; “Kiện đòi lại đất bị lấn chiếm”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21a/2019/QĐST-DS ngày 5 tháng 6 năm 2019 giöõa caùc ñöông söï:
Nguyên đơn: Công ty TNHH một thành viên cao su Đ - Nay là Công ty cổ phần cao su Đ (DKRC) (Theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần số 6000175829 đăng ký lần đầu ngày 15/11/2010, đăng ký thay đổi lần thứ 6 do Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 01/10/2018).
Địa chỉ: 30 Nguyễn Chí T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Quang N – Chức vụ: Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn T – Chức vụ: Trợ lý giám đốc phụ trách đất đai
Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt
Bị đơn: Ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y
Địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn D, bà Trần Thị Th
Địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk -Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khôûi kieän vaø caùc lôøi khai, biên bản hòa giải và taïi phiên toaø, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Dương Văn Tịnh trình baøy:
Nông trường cao su C được thành lập theo quyết định số 277/QĐ-UB ngày 14/6/1978 của UBND tỉnh Đắk Lắk là đơn vị trực thuộc Công ty TNHH một thành viên cao su Đ (nay là công ty cổ phần cao su Đ). Với nhiệm vụ chính là trồng, chăm sóc, khai thác, xuất khẩu cao su thiên nhiên.
Năm 2002 được UBND tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U191244 diện tích 31.579.731m2 (theo quyết định số 2741/QĐ-UB ngày 15/10/2002 của UBND tỉnh Đắk Lắk) cho Chi nhánh Nông trường cao su C. Năm 2013 được UBND tỉnh Đắk Lắk cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 800145 diện tích 23.171.158 m2 đất nông nghiệp (theo quyết định số 1730/QĐ-UBND tỉnh Đắk Lắk ngày 20/8/2013) cho chi nhánh Nông trường cao su C thuê đất thời hạn 50 năm đến ngày 15/10/2043.
Thực hiện chủ trương của UBND tỉnh Đắk Lắk và công ty cổ phần cao su Đ, năm 2015 và 2016 Chi nhánh Nông trường cao su C tổ chức trồng tái canh cao su trên một số diện tích đất cao su thanh lý thuộc quỹ đất của Nông trường đang quản lý, sử dụng thì bị người dân địa phương lấn chiếm, cụ thể:
Tại diện tích 25.190 m2 đất nông nghiệp thuộc thửa đất số 36, tờ bản số số 05, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 800145 cấp ngày 06/5/2014 đã bị ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y lấn chiếm diện tích theo như đo vẽ từ Chi nhánh đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk là 2.523,7 m2. Đất có tứ cận phía bắc giáp đất Nông trường có cạnh dài 62,89m, phía nam giáp đất rẫy ông D có cạnh dài 63 m, phía đông giáp rẫy ông T có cạnh dài 47,34 m, phía tây giáp rẫy ông D có cạnh dài 33,08 m. Địa chỉ thửa đất tại thôn Q, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 17/3/2017 Chi nhánh nông trường cao su C đã gửi đơn khiếu nại đề nghị UBND xã C giải quyết việc ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y lấn chiếm đất nhưng ông N, bà Y không hợp tác giải quyết nên vụ việc không tiến hành hòa giải được.
Từ những cơ sở trên, việc ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y đã tự ý chiếm dụng đất của Chi nhánh Nông trường cao su C đang quản lý, sử dụng là vi phạm quy định của luật đất đai. Do đó, Công ty cổ phần cao su Đ đề nghị Tòa án nhân dân huyện K giải quyết buộc ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y phải trả lại toàn bộ diện tích đất 2.523,7m2 nông nghiệp thuộc thửa đất số 36, tờ bản đồ số 05 cho Chi nhánh Nông trường cao su C.
Theo các lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y trình bày:
Theo như nội dung mà đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày thì vợ chồng tôi không đồng ý, sự việc cụ thể như sau:
Nguyên thủy phần đất mà công ty đang khởi kiện là gia đình tôi được anh chị (D, Th) hợp đồng sử dụng với Nông trường cao su, đến năm 2016 vì gia đình tôi không có đất, thời điểm trên thì giá tiêu có giá nên vợ chồng anh D, chị Th có cho gia đình tôi khoảng gần 3 sào để trồng ít trụ tiêu, trong diện tích trên thì thực tế gia đình tôi có lấn thêm 1đến 2 hàng tiêu là phần đất mà nông trường san ủi, gom rác nên các hộ có đốt phần cây cối, rác sát bờ ranh để mở rộng thêm một ít nhưng không đáng kể. Phần đất mà gia đình tôi đang sử dụng nằm trong diện tích mà gia đình anh D, chị Th đã được cấp sổ hợp đồng kinh tế với nông trường, gia đình tôi không lấn chiếm đất như phía công ty cao su khởi kiện. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Dục, bà Trần Thị Thuần trình bày:
Nguyên thủy gia đình tôi có 01 lô đất rẫy tọa lạc tại thôn Q, xã C lô đất trên có làm hợp đồng kinh tế với nông trường cao su C, với diện tích 5230 m2, hợp đồng kinh tế ký kết vào ngày 18/01/2007 quá trình sử dụng thì vợ chồng sử dụng ổn định, đến năm 2016 do gia đình N, Y không có đất, thời điểm trên thì giá tiêu có giá nên vợ chồng tôi có cho gia đình N, Y khoảng gần 3 sào để trồng ít trụ tiêu, trong diện tích trên thì thực tế gia đình N, Y có lấn thêm 1đến 2 hàng tiêu là phần đất mà nông trường san ủi, gom rác nên các hộ có đốt phần cây cối rác, sát bờ ranh để mở rộng thêm một ít không đáng kể. Khi cho thì gia đình tôi chỉ cho bằng miệng và thống nhất cho chứ không làm giấy tờ cũng như xác nhận ở cơ quan nào hết.
Vợ chồng tôi cho diện tích đất trên là hoàn toàn tự nguyện, hiện nay gia đình đã cho đất nên không liên quan đến việc tranh chấp giữa các bên. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ kiện theo quy định, nhưng các đương sự không thống nhất được việc giải quyết vụ kiện. Tại phiên tòa hôm nay các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến của mình.
Taïi phieân toøa Kieåm saùt vieân ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân huyện Krông Búk phaùt bieåu yù kieán veà vieäc tuaân theo phaùp luaät trong quaù trình giaûi quyeát vuï aùn cuûa Thaåm phaùn, Thư ký, Hoäi thaåm nhaân daân vaø cuûa nhöõng ngöôøi tham gia toá tuïng.
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình đối trình tự thủ tục của phiên tòa sơ thẩm; đối với nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về giải quyết nội dung vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nhận thấy: Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nông trường cao su C, căn cứ vào kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk, có căn cứ xác định diện tích đất 2.523,7m2 là do vợ chồng ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y lấn chiếm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghieân cöùu caùc taøi lieäu coù trong hoà sô vuï aùn ñaõ ñöôïc thaåm tra taïi phieân toøa vaø caên cöù vaøo keát quaû tranh luaän taïi phieân toøa, Hoäi ñoàng xeùt xöû nhaän ñònh:
. Về thủ tục tố tụng: Đây laø loại vieäc tranh chaáp về kiện đòi lại đất bị lấn chiếm thuoäc thaåm quyeàn giaûi quyeát cuûa Toøa aùn theo quy ñònh tại khoản 9 Ñieàu 26 Bộ luật tố tụng dân sự vaø loaïi vieäc tranh chaáp naøy thuoäc thaåm quyeàn giaûi quyeát cuûa Toøa aùn nhaân dân huyện Krông Búk theo quy ñònh taïi ñieåm a khoản 1 Ñieàu 35; ñieåm c khoản 1 Ñieàu 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Veà nội dung vụ kiện:
. Xét yêu cầu của Công ty cổ phần cao su Đ Tòa án nhân dân huyện K giải quyết buộc ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y phải trả lại toàn bộ diện tích đất 2.523,7m2 nông nghiệp thuộc thửa đất số 36, tờ bản đồ số 05 cho chi nhánh Nông trường cao su C. Đất có tứ cận phía bắc giáp đất Nông trường có cạnh dài 62,89m, phía nam giáp đất rẫy ông D có cạnh dài 63 m, phía đông giáp rẫy ông T có cạnh dài 47,34 m, phía tây giáp rẫy ông D có cạnh dài 33,08 m. Địa chỉ thửa đất tại thôn Q, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ vào phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất, Bản đồ địa chính xã C, mảnh trích đo chỉnh lý địa chính số 04-2018 chỉnh lý thửa 30,36,37 tờ 68, Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 30 ngày 17/12/2018 phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân huyện K do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk đo đạc ngày 18/12/2018; Căn cứ vào các chứng cứ nguyên đơn cung cấp theo hồ sơ khởi kiện; Căn cứ vào biên bản về việc xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện K.
Xét về nguồn gốc đất cấp cho Chi nhánh nông trường cao su C sử dụng, Nông trường cao su C được thành lập theo quyết định số 277/QĐ-UB ngày 14/6/1978 của UBND tỉnh Đắk Lắk là đơn vị trực thuộc Công ty TNHH một thành viên cao su Đ (nay là công ty cổ phần cao su Đ). Năm 2002 Nông trường C, được UBND tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U191244 diện tích 31.579.731 m2 theo quyết định số 2741/QĐ-UB ngày 15/10/2002 của UBND tỉnh Đắk Lắk. Năm 2013 được UBND tỉnh Đắk Lắk cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 800145 diện tích 23.171.158 m2 đất nông nghiệp theo quyết định số 1730/QĐ-UBND tỉnh Đắk Lắk ngày 20/8/2013 cho chi nhánh Nông trường cao su C thuê đất thời hạn 50 năm đến ngày 15/10/2043. Như vậy, phần đất mà Chi nhánh Nông trường cao su C được UBND tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp.
Xét nguồn gốc đất vợ chồng Trần Nhân N, Trần Thị Y khai nhận là do nhận tặng cho từ ông Nguyễn Văn D, bà Trần Thị Th, việc tặng cho bằng miệng và không thể hiện bằng văn bản, không có chứng nhận từ cơ quan có thẩm quyền là vi phạm quy định về pháp luật đất đai.
Hội đồng xét xử nhận định yêu cầu của nguyên đơn Công ty cổ phần cao su Đ về việc giải quyết buộc ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y phải trả lại toàn bộ diện tích đất 2.523,7m2 nông nghiệp thuộc thửa đất số 36, tờ bản đồ số 05 cho chi nhánh Nông trường cao su C là có căn cứ bởi lẽ, căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định ngày 28/3/2019 thì phần đất tranh chấp mà bị đơn ông Trần Nhân N đang sử dụng có diện tích 2.523,7 m2; phần đất mà vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Trần Thị Th đang sử dụng có tổng diện tích 8.571 m2. Đối chiếu lại với trích lục bản đồ địa chính số 1048 ngày 24 tháng 8 năm 2012 do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đắk Lắk đo vẽ xác định tổng diện tích đối với thửa 22 là 10860 m2, theo đó đối với thửa 22 thì hiện tại có hai hộ đang sử dụng là hộ ông Nguyễn Văn D và hộ ông Hoàng Minh Đ, hiện tại ông Đ được cấp sổ hợp đồng kinh tế tại thửa đất 22 được sử dụng diện tích 2.200 m2. Như vậy tổng diện tích đất thực tế mà hộ ông Đ và hộ ông D đang sử dụng là 8.571 m2 + 2.200 m2 =10.771 m2 (xấp xỉ 10.860 m2). Vì diện tích hộ ông D và ông Đ đang sử dụng là phù hợp với diện tích theo trích lục bản đồ địa chính đối với thửa 22, tuy có sai số nhưng không đáng kể nên phần diện tích đất ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y đang sử dụng là thuộc diện tích đất nông trường quản lý, sử dụng là phù hợp. Hơn nữa, khi ráp tờ bản đồ theo như trích lục bản đồ địa chính đối với thửa 22 so với thực địa thì phần diện tích đất 2.523,7m2 đang tranh chấp nằm trong thửa đất số 36, tờ bản đồ số 05 được cấp cho chi nhánh Nông trường cao su C.
Từ những căn cứ trên xét yêu cầu của nguyên đơn Công ty cổ phần cao su Đ về việc quyết buộc ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y phải trả lại toàn bộ diện tích đất 2.523,7m2 là có căn cứ, cần chấp nhận.
. Đối với các tài sản là cây trồng trên đất đang tranh chấp: Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk thì trên diện tích đất đang tranh chấp hiện ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y đã trồng 9 cây bơ ghép, 10 cây sầu riêng, 270 trụ tiêu, 5 cây mít thái. Xét thấy trong quá trình lấn chiếm thì phía Nông trường có tiến hành lập các biên bản làm việc về việc lấn chiếm đất của Nông trường trường cao su C vào các ngày 21/5/2016; 3/6/2016. Như đã xác định ở trên, phần đất mà nguyên đơn Công ty cổ phần cao su Đ khởi kiện buộc ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y phải trả lại là có căn cứ, trong quá trình lấn chiếm Chi nhánh nông trường cao su C có lập biên bản làm việc với hộ gia đình lấn chiếm, vì vậy việc ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y trồng cây trên đất lấn chiếm là bất hợp pháp, nên cần buộc ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y phải tiến hành di dời các cây trồng trên phần diện tích đất lấn chiếm để trả lại hiện trạng đất cho Chi nhánh nông trường cao su C sử dụng theo đúng mục đích đã được cấp giấy chứng nhận.
. Về chi phí tố tụng: Chi phí hợp đồng đo đạc với Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk nguyên đơn tự nguyện chịu và đã thanh toán với Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk theo quy định. Chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản là 2.500.000đ nguyên đơn tự nguyện chịu, đã nộp và chi phí xong.
[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mức án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đ. Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn trả lại cho nguyên đơn Công ty cổ phần cao su Đ số tiền 300.000đ đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk theo bieân lai soá AA/2016/0001389 ngaøy 16/11/2017 cuûa Chi cuïc Thi haønh aùn daân söï huyện Krông Búk. Bị đơn ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì caùc leõ treân,
QUYEÁT ÑÒNH
Căn cứ: Khoản 9 Ñieàu 26; ñieåm a khoản 1 Ñieàu 35; ñieåm a khoản 1 Ñieàu 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng: Điều 166, 267, 268, 269, 272, 273 Bộ luật dân sự
Áp dụng: Điều 12, 170 Luật đất đai năm 2013
Áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyeân xöû:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần cao su Đ
Buộc ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y phải trả lại cho Công ty cổ phần cao su Đ – Chi nhánh nông trường cao su C 01 diện tích đất là 2.523,7m2, địa chỉ thửa đất tại thôn Q, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đất thuộc thửa đất số 36, tờ bản đồ số 05 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 800145 cấp ngày 06/5/2014 cho Công ty cổ phần cao su Đ – Nông cao su C. Đất có tứ cận: Phía bắc giáp đất Nông trường cao su C có cạnh dài 62,89m, phía nam giáp đất rẫy ông D có cạnh dài 63 m, phía đông giáp rẫy ông T có cạnh dài 47,34 m, phía tây giáp rẫy ông D có cạnh dài 33,08 m. Địa chỉ thửa đất tại thôn Q, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Buộc ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y phải tiến hành di dời các cây trồng trên phần diện tích đất lấn chiếm gồm: 9 cây bơ ghép, 10 cây sầu riêng, 270 trụ tiêu, 5 cây mít thái để trả lại hiện trạng đất cho Chi nhánh nông trường cao su C sử dụng theo đúng mục đích sử dụng đã được cấp giấy chứng nhận.
Buộc ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y phải thực hiện việc di dời các cây trồng trên phần đất lấn chiếm ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y không thực hiện di dời các cây trồng trên đất lấn chiếm thì sẽ bị cưỡng chế theo quy định của pháp luật về Thi hành án dân sự và Công ty cổ phần cao su Đ có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Về chi phí tố tụng:
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chịu toàn bộ chi phí hợp đồng đo đạc với Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk và đã thanh toán xong. Về chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản là 2.500.000đ nguyên đơn tự nguyện chịu, đã nộp và chi phí xong.
3. Về án phí: Hoàn trả lại cho nguyên đơn Công ty cổ phần cao su Đ số tiền 300.000đ đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk theo bieân lai soá AA/2016/0001389 ngaøy 16/11/2017 cuûa Chi cuïc Thi haønh aùn daân söï huyện Krông Búk. Bị đơn vợ chồng ông Trần Nhân N, bà Trần Thị Y phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
4. Về quyền kháng cáo bản án:
Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn coù quyeàn khaùng caùo aùn sơ thẩm trong thôøi haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Tröôøng hôïp baûn aùn, quyeát ñònh ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoaû thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc Ñieàu 6,7a vaø 9 Luaät thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi Ñieàu 30 Luaät thi haønh aùn daân söï.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Búk; - Chi cục THADS huyện Krông Búk; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VT. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã Ký) Thái Văn Hải |