- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Lê Thanh Đ - Đào Thị X, Lê H, Lê Thanh H"
- Tòa quyết gì? C n cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự n m 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban th ờng vụ Quốc hội về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2019/DS-PT Ngày 19- 4-2019 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Lê Tuấn T
Các Thẩm phán:
ng Hà V n Ch ng
Bà L u Hồ Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Quan Thị Thu Trang - Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguy n H u Tình - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 01 tháng 3 và 19 tháng 4 n m 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 02/2019/TLPT-DS, ngày 04 tháng 01 n m 2019 về việc: "Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Do Bản án dân sự s thẩm số: 92/2018/DS-ST, ngày 19 tháng 11 n m 2018 của Tòa án nhân dân thành phố T bị kháng cáo.
Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 08/2019/QĐ-PT, ngày 31 tháng 01 n m 2019, gi a các đ ng sự:
1. Nguyên đ n:
Bà Lê Thanh Đ, sinh n m 1955;
Địa chỉ: Số nhà 27, tổ 15, ph ờng H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
Ng ời đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thanh Đ: Ông Đàm Ngọc S, địa chỉ: Tổ 22, ph ờng Q, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt
2. Bị đ n:
- Bà Đào Thị X, sinh n m 1951. Vắng mặt
Ng ời đại diện theo ủy quyền của bà Đào Thị : Ông Triệu V n , sinh n m 1947. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: Số nhà 158, tổ 11, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
- Bà Lê Thanh H, sinh n m 1961; Địa chỉ: Số nhà 25, tổ 15, ph ờng H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
- Ông Lê H, sinh n m 1968; Địa chỉ: Tổ 1, ph ờng Q, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
3. Ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Triệu Quyết T, sinh n m 1975.
- Chị Nguy n Thị L, sinh n m 1982
Anh Triệu Quyết T đồng thời là ng ời đại diện theo ủy quyền của chị Nguy n Thị L.
Cùng địa chỉ: Tổ 1, ph ờng Q, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Anh T có mặt, chị L vắng mặt
- Ông Lê Đức A (Đào Đức A), sinh n m 1949
Địa chỉ: Tổ 1, ph ờng Q, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt
- Ông Lê Thành C, sinh n m 1966
Địa chỉ: Tổ 4, ph ờng Y, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
- Bà Lê Thị V, sinh n m 1969
Địa chỉ: Tổ 1, ph ờng Q, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
4. Ng ời kháng cáo: Nguyên đ n bà Lê Thanh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn L Thanh Đ trình bày:
Bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đào Thị trả lại đất cho bà, có diện tích là 61,5m2 trong đó có chiều sâu là 18,5 m, có chiều bám mặt đ ờng bê tông là 3,3m. Nguồn gốc đất là do bố mẹ để lại, khi bố mẹ bà chết không để lại di ch c. Đến ngày 12 tháng 7 n m 2010 các anh em trong gia đình đã họp thống nhất phân chia đất tại nhà ông Lê H tổ 1, ph ờng Q, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Các anh chị em đã họp và phân chia nh sau: Ông Lê H có công ch m sóc, thờ cúng bố mẹ đ c chia là 9,1m, ông Lê Thành C đ c chia là 4m, bà V đ c chia là 4m và hai nếp nhà cũ; bà Đ, bà H, ông A, bà X mỗi ng ời đ c chia 3,3m chiều ngang bám mặt đ ờng và chiều sâu thì dọc theo thổ đất; Các anh chị em không ai thắc mắc gì, khi lập biên bản cuộc họp bà Đ đ c cử là th ký cuộc họp, sau khi họp xong tất cả bẩy ng ời cùng ký vào biên bản. Ông H đã cầm biên bản cuộc họp này để làm sổ đỏ. Mọi ng ời đã cùng nhau nộp tiền để chuyển đổi 120m2 thành đất thổ c . Đến tháng 10 n m 2011 ông H đã đ c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó ông C cũng đ c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn lại đang chờ để đ c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thế nh ng đến tháng 7 n m 2012 bà X xây nhà lấn sang đất của bà, bà đã đòi nh ng bà X không trả và đã xây nhà xong. Theo bà Đ sau khi phân chia xong bà đã ra nhận đất của bà.
Bà Đ nộp cho Toà án bản phô tô, ch bà viết do gia đình cử bà làm th ký ghi biên bản buổi họp hôm đó. Vì gia đình nhà ông H không có máy tính và gia đình bà không ai biết đánh máy cho nên bản chính là viết tay, ngoài ra không có bản đánh máy. Bà Đ yêu cầu Tòa án buộc gia đình bà X và các bị đ n khác trả lại phần đất của bà.
Bà hoàn toàn bác bỏ các tài liệu chứng cứ do ông X, ông H cung cấp. Bà chỉ tham gia cuộc họp ngày 12/7/2010. Về giấy biên nhận ngày 15/8/2012 đ ng là ch ký ch viết của bà (bà viết nháp và bị mất cắp). Bà yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà X trả lại diện tích đất đã lấn chiếm đất cho bà. Bà hoàn toàn nhất trí diện tích đất đ c chia là 3,3m chiều ngang bám mặt đ ờng bê tông, chiều sâu khoảng 18,5m chạy dài hết đất.
Tại phiên tòa s thẩm bà Đ yêu cầu bà X phải trả lại cho bà diện tích là 2,4m chiều ngang, chiều sâu cho đến hết đất do bà X lấn chiếm rồi cho con trai Triệu Quyết T làm nhà.
* Bị đơn trình y
- Ông Triệu V n ng ời đại diện theo uỷ quyền của bà Đào Thị trình bày về nguồn gốc đất nh sau: Toàn bộ mảnh đất tại tổ 1, ph ờng Q, thành phố T, là của bố mẹ bà X (v ông) để lại. Đến ngày 02/01/2011 các anh chị em trong gia đình có họp thống nhất giao cho ông Lê H đứng tên làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ thửa đất và đã đ c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất n m 2011. Sau khi ông H đ c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã phân chia cho từng anh chị em. Sau khi đ c chia bà X đ c chia đất n m 2012 xây nhà cho con trai là Triệu Quyết T trên phần đất đ c chia không hề chiếm đất của bà Đ.
- Ông Lê H trình bày: Đất đã phân chia đất đều cho các anh chị em trong gia đình, tất cả các anh, chị, em không ai có ý kiến gì. ng không hiểu sao bà Đ vẫn khởi kiện, gây khó d cho mọi ng ời.
- Bà Lê Thanh H trình bày: Bà Đ có giấy kiện lên Toà cho rằng bà c ớp đất là không đ ng. Anh chị em trong gia đình ai cũng đ c chia bà Đ cũng có phần nh nh ng ng ời khác, các anh chị em không ai đứng về phía bà Đ cả. Còn các giấy tờ đi kiện của bà Đ đều là không đ ng sự thật.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan trình bày:
- Ông H, bà V, ông C cùng trình bày: Gia đình đã phân chia đất cho các anh em trong gia đình, bà Đ đ c chia 3,3m nh ng vị trí nh bà Đ kiện tranh chấp là không đ ng.
- Anh T trình bày: Anh đ c mẹ anh là bà X cho đất, sau đó ông Lê H là ng ời đại diện cho các anh chị em trong gia đình đã tách đất cho anh ở vị trí nh hiện nay, không có chuyện lấn đất của bà Đ.
Vụ án trên đã đ c Tòa án nhân dân thành phố T xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; hòa giải không thành và đã đ a vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự s thẩm số: 92/2018/DS-ST, ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T.
Quyết định:
- C n cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 35; Điều 39; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự n m 2015.
- C n cứ khoản 1 khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dận sự n m 2015 về nghĩa vụ chứng minh.
- C n cứ vào điểm d và đ khoản 2 Điều 97 và Điều 101, Điều 104 Bộ luật tố tụng dận sự n m 2015.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thanh Đ về việc kiện yêu cầu bà Đào Thị trả lại diện tích đất lấn chiếm có chiều rộng là 2,4m, chiều dài hết đất.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đ ng sự.
Ngày 30 tháng 11 n m 2018 Tòa án nhận đ n kháng cáo của nguyên đ n bà Lê Thanh Đ đ n kháng cáo có nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án s thẩm số 92/2018/DS-ST ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T. Lý do kháng cáo: Hội đồng xét xử vụ kiện sai luật, không đ ng nội dung đ n khởi kiện ngày 18/10/2017, xử không công bằng, không đ ng theo pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đ n bà Lê Thanh Đ gi nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày vị trí đất bà Đ anh em trong gia đình họp bàn thống nhất chia cho bà là tại vị trí giáp đất của bà H mà hiện nay anh T đang sử dụng trái phép, bà yêu cầu anh T phải phá dỡ nhà để trả lại cho bà mảnh đất đó chứ bà không đồng ý lấy bất cứ mảnh đất nào khác. Bà yêu cầu chuyển hồ s sang c quan công an để giải quyết do có dấu hiệu giả mạo giấy tờ của phía bị đ n.
Các bị đ n và nh ng ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đ với lý do tại phiên tòa phúc thẩm bà Đ không xuất trình đ c tài liệu, chứng cứ gì mới. Nh ng chứng cứ bà Đ đã dùng để bảo vệ quyền l i của bà đều là nh ng chứng cứ không khách quan, không có thật.
Đối với số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm ông Lê H đã nộp tạm ứng chi phí 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), tại phiên tòa Ông H nhận chịu toàn bộ số tiền này, không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng Thẩm phán đã chấp hành đ ng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử đã thực hiện đảm bảo các thủ tục về phiên tòa phúc thẩm, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, Th ký phiên tòa đ ng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đ ng sự thực hiện đ ng các quy định tại Điều 70; Điều 71; Điều 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đ n kháng cáo của bà Lê Thanh Đ là h p lệ trong hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong nội dung bản án s thẩm.
Về nội dung: Bà Đ khởi kiện nh ng không đ a ra đ c các tài liệu chứng cứ chứng minh vị trí mảnh đất của bà là do bà X lấn chiếm do đó không có c n cứ chấp nhận. Đề nghị HĐ không chấp nhận yêu cầu của bà Đ đ c sử dụng mảnh đất tại vị trí số 1 mà cần giao cho bà Đ đ c sử dụng mảnh đất tại vị trí số 5 thể hiện trong s dồ đo vẽ ngày 15/3/2019. Đề nghị Hội đồng xét xử c n cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án s thẩm số 92/2018/DS-ST, ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
C n cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã đ c xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thanh Đ: Bà Đ kháng cáo toàn bộ bản án s thẩm số 92/2018/DS-ST ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T. Việc kháng cáo đ c thực hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo và quyền kháng cáo phù h p với quy định của pháp luật. Nh vậy, việc kháng cáo của bà Đ là h p pháp.
. Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử thấy rằng về nguồn gốc mảnh đất có tranh chấp là của cụ Lê Viết N (đã chết n m 1977) và cụ Nguy n Thị H (đã chết n m 1990), có chiều rộng bám mặt đ ờng khoảng 30m, chiều dài khoảng 18m. Cụ N và cụ H chết không để lại di ch c. Đến n m 2011 các anh, chị, em trong gia đình gồm có ông A, bà Xuân, bà Đ, ông C, bà H, ông H, bà V cùng nhất trí thỏa thuận để ông Lê H đứng ra đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó ông H sẽ chia lại cho các anh, chị em trong gia đình theo nh thỏa thuận. Trong quá trình họp bàn chia đất các đ ng sự chỉ thỏa thuận về diện tích đất đ c chia (theo cách hiểu ai có nhu cầu sử dụng tr ớc sẽ đ c ông Lê H tách cho tr ớc) chứ không thỏa thuận về vị trí đ c chia của từng ng ời. Các đ ng sự không có tranh chấp về diện tích đất đ c chia mà chỉ tranh chấp về vị trí sử dụng đất.
Nguyên đ n bà Lê Thanh Đ cho rằng chỉ có một cuộc họp gia đình ngày 12/7/2010 bà Đ tham gia họp để phân chia di sản, tại buổi họp bà Đ phân công ghi biên bản, nh ng bà không còn bản chính của biên bản này để nộp cho Toà án. Bà Đ cho rằng theo biên bản này phần đất mà bà Đ chia là 3,3m chiều ngang, chiều sâu 18m. Tính từ bờ kè sông Lô vào thì vị trí đất của bà H là số 1, của bà Đ là số 2. Nếu tính từ nhà ông H ra bờ kè sông Lô thì đất của bà có vị trí thứ 6. Bà Đ xác định ngày 12/7/2012 bà Đào Thị tiến hành đào móng làm nhà cho con trai đã đào lấn sang phần đất của bà Đ chia là 2,4m chiều ngang, chiều sâu 18m. Bà yêu cầu bà X trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 61,5m2. Bà Đ cho rằng biên bản họp gia đình ngày 02/01/2011 không phải ch ký của bà và đã có kết quả giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình giải quyết vụ án bà Đ không cung cấp đ c bất kỳ chứng cứ nào thể hiện là vị trí đất của bà Đ đ c chia ở giáp đất bà H. Về giấy tờ nộp thuế chuyển đổi mục đích sử dụng đất do bà Đ đi nộp cũng không xác định đất của bà Đ chia ở đâu. Biên bản ngày 02/01/2011 có kết luận ch ký không phải của bà Đ, tuy nhiên tại biên bản này không ghi vị trí đất của bà Đ. H n n a, tại giấy biên nhận viết tay ngày 15/8/2012 bà Đ viết cho ông Lê H toàn bộ 3,3m đất bà Đ chia thừa kế cũng không ghi vị trí đất của bà Đ ở đâu. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đ n không đ a ra đ c bất kỳ một chứng cứ nào có c n cứ thể hiện vị trí đất thuộc quyền sử dụng của mình, do đó không có c n cứ xác định bà X đã lấn, chiếm đất của bà Đ. Các anh chị em trong gia đình là ông A, ông C, ông H, bà H, bà V cũng xác định phần đất của bà Đ có chiều ngang 3,3m, chiều sâu hết đất vẫn còn ở giáp đất nhà bà V không ai sử dụng đến.
Từ nh ng nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy không có đủ c n cứ xem xét, chấp nhận kháng cáo của nguyên đ n bà Lê Thanh Đ. Việc cấp s thẩm đ a ra nhận định và quyết định nh trong Bản án s thẩm là hoàn toàn có c n cứ, phù h p với quy định của pháp luật. Do đó, cần gi nguyên bản án s thẩm số 92/2018/DS-ST của Tòa án nhân dân thành phố T.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang giao cho bà Đ đ c sử dụng mảnh đất tại vị trí số 5 trong s đồ mảnh trích đo hiện trạng thửa đất số 135 tờ bản đồ số 28 (đo vẽ thẩm định ngày 15/3/2019). Tuy nhiên, bà Đ không có yêu cầu sử dụng mảnh đất này, nội dung này không trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n nên không có c n cứ giao cho bà Đ sử dụng mảnh đất ở vị trí số 5 nh đề nghị của Viện kiểm sát.
Đối với đề nghị của nguyên đ n về việc đề nghị chuyển hồ s vụ án tới c quan Công an để giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng không có dấu hiệu vi phạm hình sự trong vụ án này nên không có c n cứ chuyển vụ án cho c quan Công an giải quyết nh yêu cầu của nguyên đ n.
. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thanh Đ phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm. Nh ng, bà Đ là ng ời cao tuổi nên đ c mi n toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc Hội.
. Các phần khác của Bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
C n cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự n m 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban th ờng vụ Quốc hội về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đ n bà Lê Thanh Đ.
2. Gi nguyên bản án dân sự s thẩm số 92/2018/DS-ST ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T nh sau:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thanh Đ về việc kiện yêu cầu bà Đào Thị trả lại diện tích đất lấn chiếm có chiều rộng 2,4m, chiều dài hết đất.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thanh Đ đ c mi n toàn bộ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần khác của Bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 19/4/2019.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - TAND thành phố T; - Chi cục THADS thành phố T; - Các đ ng sự; - L u hồ s . | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Tuấn Tú |