- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Võ Văn M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:17/2018/HS-ST Ngày: 14-11-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông K’Mák
2/ Ông Cao Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Út – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại Hội trường Tổ dân phố 6, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2018 đối với:
* Bị cáo Võ Văn M – Sinh năm: 1989, tại: Lâm Đồng.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn O – sinh năm 1955 và bà Trần Thị Tuyết A – sinh năm 1961; Vợ: Phạm Thị Mỹ H – sinh năm 1991; Con: Có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án: tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/7/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:Anh Lê Văn T – Sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, TT. R, huyện Đ, Lâm Đồng “ Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17.4.2018, Võ văn M mượn xe mô tô biển số 61R3 -2396, của anh Lê Văn T để điều khiển đi từ thị trấn R, huyện Đ xuống ấp P 05, xã S, huyện Q, tỉnh Đồng Nai để mua heroine của đối tượng Nguyễn Thành T – Sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố 5, TT.G, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Khi đến nơi, M đứng ngoài cửa sổ và đưa cho T số tiền 300.000 đồng rồi T đưa lại cho M 03 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong đều chứa cục bột màu trắng (loại ma túy heroine). Sau đó, M bỏ 03 đoạn ống nhựa này vào trong 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONDS màu xanh do M đem theo sẵn rồi cất dấu vỏ bao thuốc lá này vào trong túi quần jean phía trước bên trái mà M đang mặc, mục đích là nhằm cất giấu tránh sự phát hiện của cơ quan Công an. Đến Khoảng 13 giờ 30 cùng ngày, qua công tác tuần tra Công an TT. G, huyện Đ phối hợp cùng với Công an huyện Đ nghi ngờ nên đã đưa M về trụ sở làm việc thì thu giữ được trong túi quần của M: 03 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong đều chứa cục bột màu trắng đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONDS, màu xanh, nghi là chất ma túy nên đã tiến hành niêm phong bàn giao vụ việc cho CQĐT Công an huyện Đ.
Theo kết luận giám định số 770/GĐ-PC54 ngày 06/05/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, thì chất dạng cục bột màu trắng được gửi giám định đựng trong 03 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong đều chứa cục bột màu trắng là loại ma túy, có khối lượng 0,1168g, loại heroine.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSĐH-MT ngày 02/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Võ Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Văn M từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù.
* Về vật chứng vụ án:
Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy những vất chứng không còn giá trị sử dụng:
+ 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “ Võ Văn M”, “ Đinh Xuân V”, chữ ký không ghi họ tên và hình dấu tròn màu đỏ của “ Công an thị trấn G – huyện Đ – Lâm Đồng”. Bên trong có 03 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, trong chứa chất ở dạng cục bột màu trắng có tổng trọng lượng 0,1168gam, khi giám định kết luận là heroine. Sau khi giám định còn lại 0,0318gam đã được phòng Kỹ thuật hình sự dùng niêm phong có chữ ký ghi họ tên “ Phạm Thị D”, “ Nguyễn Văn C”, “ Đinh Xuân V” và dấu hình tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng”.
+ 01(một) phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định. Tình trạng: Phong bì được niêm phong có chữ ký họ tên “ Phạm Thị D”, “ Nguyễn Văn C”, “ Đinh Xuân V” và dấu hình tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng”.
+ 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONS màu xanh của bị cáo M dùng để đựng ma túy.
Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho anh Lê Văn T: 01 (một) xe mô tô biển số 61R3 -2396, nhãn hiệu Max – III – Plus, số máy: 003095, số khung: 8A003095, màu hồng.
* Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/4/2018, bị cáo đi từ thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xuống ấp P 05, xã S, huyện Q, tỉnh Đồng Nai, mua heroine của đối tượng Nguyễn Thành T có khối lượng là 0,1168g về để sử dụng. Qua lời khai nhận của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa tại phiên tòa hôm nay đều phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hạo cho sức khỏa và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người nhận thức được tác hại của các chất ma túy nhưng đã bất chấp pháp luật, bị cáo cố tình mua ma túy về để sử dụng, cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, cần phải cách ly bị cáo M ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần, vì: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; bị cáo không có tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này còn có đối tượng Nguyễn Thành T là người đã bán ma túy cho bị cáo M tại ấp P 05, xã S, huyện Q, tỉnh Đồng Nai. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Đồng Nai để giải quyết đối tượng Nguyễn Thành T theo thẩm quyền là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét hành vi của đối tượng Nguyễn Thành T trong vụ án này.
Về vật chứng của vụ án:
+ 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “ Võ Văn M”, “ Đinh Xuân V”, chữ ký không ghi họ tên và hình dấu tròn màu đỏ của “ Công an thị trấn R – huyện Đ – Lâm Đồng”. Bên trong có 03 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, trong chứa chất ở dạng cục bột màu trắng có tổng trọng lượng 0,1168gam, khi giám định kết luận là heroine. Sau khi giám định còn lại 0,0318gam đã được phòng Kỹ thuật hình sự dùng niêm phong có chữ ký ghi họ tên “ Phạm Thị D”, “ Nguyễn Văn C”, “ Đinh Xuân V” và dấu hình tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng”.
+ 01(một) phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định. Tình trạng: Phong bì được niêm phong có chữ ký họ tên “ Phạm Thị D”, “ Nguyễn Văn C”, “ Đinh Xuân V” và dấu hình tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng”.
+ 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONS màu xanh của bị cáo M dùng để đựng ma túy.
Xét thấy, những vật chứng trên là vật chứng cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
+ 01 (một) xe mô tô biển số 61R3 -2396, nhãn hiệu Max – III – Plus, số máy: 003095, số khung: 8A003095, màu hồng. Xác định đây là chiếc xe mô tô thuộc sở hữu hợp pháp của anh Lê Văn T, khi bị cáo mượn xe của anh T, anh T không biết bị cáo dùng xe để đi mua ma túy, cần trả lại chiếc xe mô tô này cho anh T là phù hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Văn M 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2018.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy những vất chứng sau:
+ 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “ Võ Văn M”, “ Đinh Xuân V”, chữ ký không ghi họ tên và hình dấu tròn màu đỏ của “ Công an thị trấn R – huyện Đ – Lâm Đồng”. Bên trong có 03 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, trong chứa chất ở dạng cục bột màu trắng có tổng trọng lượng 0,1168gam, khi giám định kết luận là heroine. Sau khi giám định còn lại 0,0318gam đã được phòng Kỹ thuật hình sự dùng niêm phong có chữ ký ghi họ tên “ Phạm Thị D”, “ Nguyễn Văn C”, “ Đinh Xuân V” và dấu hình tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng”.
+ 01(một) phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định. Tình trạng: Phong bì được niêm phong có chữ ký họ tên “ Phạm Thị D”, “ Nguyễn Văn C”, “ Đinh Xuân V” và dấu hình tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng”.
+ 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONS màu xanh của bị cáo M dùng để đựng ma túy.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho anh Lê Văn T: 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 61R3 -2396, nhãn hiệu Max – III – Plus, số máy: 003095, số khung: 8A003095, màu hồng.
Hiện những vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 5/10/2018.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo M phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo nội dung bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đạ Huoai; - Công an huyện Đạ Huoai; - Bị cáo; - Người có QL và NVLQ; - Thi hành án dân sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký tên và đóng dấu) Dƣơng Văn Hùng |