- Tranh chấp gì? án hình sự — "249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo PHH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2018/HS-ST Ngày 05-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trung Thông.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Lâm và ông Trần Đăng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2018/QĐXXST-HS ngày 08/5/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: PHH; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 02/5/1998 tại xã X, huyện Y, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn ĐG, xã X, huyện Y, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông PHT (Đã chết) và bà HTT; vợ, con: Chưa; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 15/03/2017 bị Công an quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ’’ theo quyết định số 16329/QĐ-XPHC, hình thức phạt tiền 3.000.000 đồng, bị cáo đã nộp phạt xong ngày 21/03/2017; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2018 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến:Anh HVX; sinh năm: 1972; địa chỉ: xã HS, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 12 năm 2017 PHH đi chơi ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và gặp một người đàn ông tên H (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) đã cho PHH 01 (Một) gói nilong bên trong đựng chất rắn màu trắng dạng tinh thể và nói với PHH đây là ma túy đá để sử dụng. Sau khi nhận số ma túy trên thì PHH đi vào thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh rồi chia nhỏ thành 06 (Sáu) gói nilong để sử dụng, PHH đã sử dụng hết 02 (Hai) gói nilong. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, PHH đang đi từ hướng khách sạn V về quán Karaoke X thuộc địa phận Tổ dân phố Liên Phú, phường Kỳ Liên, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh thì bị lực lượng Công an thị xã Kỳ Anh kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra Công an thị xã Kỳ Anh phát hiện tại túi quần bên phải phía trước của PHH có 01 (Một) gói nilong có kích thước 0,5x1,5cm bên trong đựng chất rắn màu trắng dạng tinh thể, PHH khai nhận chắt rắn này là ma túy đá cất trong người để sử dụng. Sau đó tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và tiến hành niêm phong số vật chứng đã thu giữ trên người PHH. Đến 19giờ 00 phút cùng ngày, Công an thị xã Kỳ Anh khám xét khẩn cấp tại chổ ở của PHH tại quán Karaoke X thuộc phường Kỳ Liên, thị xã Kỳ Anh, PHH đã lấy trên trần nhà đối diện giường ngủ của PHH giao nộp thêm 03 (Ba) gói nilong kích thước bằng nhau (mỗi gói 0,5 x 1,5cm), bên trong mỗi gói có chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể, PHH khai nhận đây là ma túy đá để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 03/GĐMT-PC54, ngày 03/01/2018 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, xác định:
- Chất tinh thể rắn màu trắng được đựng trong 01 (Một) gói nilong (Ký hiệu A1) gửi đến giám định có trọng lượng là 0,0680 gam, là Methamphetamine.
- Chất tinh thể rắn màu trắng được đựng trong 03 (Ba) gói nilong (Ký hiệu A2) gửi đến giám định có trọng lượng là 0,2905 gam, là Methamphetamine.
Tổng trọng lượng chất Methamphetamine đã thu giữ của PHH là 0,3585 gam (Không phẩy ba năm tám năm gam).
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (Một) gói ni long bên trong chứa 0,0478gam (Không phẩy không bốn bảy tám gam), là Methamphetamine (Sau khi đã trừ mẫu giám định).
- 03 (Ba) gói nilong bên trong chứa 0,2655 gam (Không phẩy hai sáu năm năm gam), là Methamphetamine (Sau khi đã trừ mẫu giám định).
Các vật chứng nêu trên đã được niêm phong vào một phong bì thư có chữ ký của các thành viên Hội đồng giám định và PHH.
Với hành vi trên, Cáo trạng số 21/CT –VKSTXKA ngày 10/4/2018, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố bị cáo PHH về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị PHH phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm ckhoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt PHH mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là: 0,3133 gam Methamphetamine (Sau khi đã trừ mẫu giám định).
Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Kỳ Anh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy nên vào đầu tháng 12 năm 2017 PHH đi chơi ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và được một người đàn ông tên H cho 01 (Một) gói ma túy đá để sử dụng. PHH chia ra làm 06 gói nhỏ và đã sử dụng hết 02 gói. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, PHH đã bị Công an thị xã Kỳ Anh bắt giữ trong người có 01 (Một) gói nilong, khám xét nơi ở PHH đã lấy trên trần nhà đối diện giường ngủ giao nộp thêm 03 (Ba) gói nilong. Tổng trọng lượng ma túy PHH cất dấu là 0,3585 gam (Không phẩy ba năm tám năm gam) Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính Phủ.
Hành vi tàng trữ Methamphetamine với trọng lượng 0,3585 gam của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó việc truy tố, xét xử bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy mà còn làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 15/03/2017 bị Công an quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ’’ theo quyết định số 16329/QĐ-XPHC, hình thức phạt tiền 3.000.000 đồng,bị cáo đã nộp phạt xong ngày 21/03/2017. Vì vậy trong quá trình xem xét mức hình phạt của bị cáo cần đánh giá về việc bị cáo còn có tiền sự để lên một mức án phù hợp.
Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tiền sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, đang ở cùng với gia đình, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này, bị cáo khai số ma túy trên được một người tên H cho nhưng không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể người này, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh để xử lý. Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo luật định.
Về xử lý vật chứng:
0,3133 (Không phẩy ba một ba ba) gam Methamphetamine (Sau khi đã trừ mẫu giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017; điểm a, khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3, khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; xử:
1.Tuyên bố bị cáo PHH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt PHH 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/01/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 0,3133 (Không phẩy ba một ba ba) gam Methamphetamine (Sau khi đã trừ mẫu giám định).
Tình trạng các vật chứng trên có tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/4/2018 giữa Cơ quan điều tra Công an thị xã Kỳ Anh với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh.
3.Về án phí:Bị cáo PHH phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND thị xã Kỳ Anh; - Công an thị xã Kỳ Anh; - Sở Tư pháp Hà Tĩnh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng PC81 Công an tỉnh Hà Tĩnh; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: HS; VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Trung Thông |