vanban.org

Bản án 17/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 25/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

* Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2018/HS-ST
Ngày: 25/5/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Thuận;

Ông Phạm Dình Duy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thành Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 5 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu C, sinh năm 1968 tại huyện H, tỉnh B; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, thị xã A, tỉnh B; nghề nghiệp: Lái xe ô tô tải; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (chết) và bà Lê Thị H (chết); vợ: Nguyễn Thị M; có 03 con, đã chết 01, còn 02: Lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2000; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời bị hại: Cao Thị T (Đã chết);

Người đại diện hợp pháp cho người bị hại: Ông Huỳnh Trọng T, sinh năm 1957 - Chồng của bị hại (Có mặt);

Trú tại: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh B.

- Bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1985 (Có mặt);

Trú tại: Thôn B, xã P, huyện T, tỉnh B.

- NLC, sinh năm 1992 (Vắng mặt);

Trú tại: Số nhà B đường M, phường N, thành phố K, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Hữu C có giấy phép lái xe ô tô hạng C và được ông Nguyễn Hữu T1 thuê lái xe ô tô để chở hàng. Vào khoảng 15 giờ ngày 22/11/2017, C thực hiện công việc ông T1 giao nên điều khiển xe ô tô tải biển số 77C-083.75 của ông T1 đi từ thị xã A đến huyện T để chở cát. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường Km39 Quốc lộ M thuộc thôn P, xã T, huyện T, tỉnh B, cách đường bê tông rẽ ra bãi cát khoảng 06m, C thấy phía trước cách đầu xe ô tô tải khoảng 04m có bà Cao Thị T điều khiển xe đạp chở một bao nhựa chứa vỏ trấu đi cùng chiều sát mép phải của làn đường dành cho xe thô sơ. C điều khiển xe ô tô tải vượt xe đạp do bà T điều khiển. Khi phần đầu xe tải qua khỏi xe đạp nhưng C không quan sát phía sau bên phải mà giảm tốc độ, chuyển hướng rẽ phải vào đường bê tông ra bãi cát dẫn đến phần thân bên phải xe ô tô tải va chạm với bao trấu trên xe đạp làm bà T và xe đạp ngã xuống đường, bánh xe bên ngoài trục thứ 2 bên phụ của xe ô tô tải đi qua người bà T và xe đạp. Hậu quả của vụ tai nạn: Bà T chết tại chỗ.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 22/11/2017 tại đoạn Km39 Quốc lộ M thuộc thôn P, xã T, huyện T, tỉnh B (BL: 15, 16), thể hiện: Nơi xảy ra vụ tai nạn là tại đoạn Km39 Quốc lộ M thuộc thôn P, xã T, huyện T, tỉnh B, trục đường hướng tây – đông (Hướng tây đi tỉnh G, hướng đông đi thành phố Q, tỉnh B), phía bắc giao nhau với đường bê tông đi bãi cát sông K, phía nam là khu vực nhà dân. Mặt Quốc lộ M được trải nhựa bằng phẳng, thẳng, không bị che khuất tầm nhìn, rộng 11,7m, ở giữa có vạch kẻ sơn màu vàng không liên tục, rộng 0,2m, chia mặt đường thành hai phần đường. Ở mỗi phần đường đều có 2 làn đường xe thô sơ và xe cơ giới, được ngăn cách bằng vạch kẻ sơn màu trắng liên tục, rộng 0,15m. Trong đó, làn đường xe thô sơ và xe cơ giới của phần đường phía bắc rộng lần lượt là 1,96m và 3,5m; làn đường xe thô sơ và làn đường xe cơ giới của phần đường phía nam rộng lần lượt là 2,3m và 3,44m.

Đường bê tông giao nhau với phía bắc Quốc lộ M rộng 5m, bằng phẳng, cong về hướng đông bắc, vị trí tiếp giáp với Quốc lộ M rộng 6,2m.

Hiện trường theo hướng đông – tây, phát hiện và ghi nhận các dấu vết như sau:

- Xe đạp mi ni màu sơn tím ngã về phía bên phải, nằm trên mặt đường bê tông và lề đất phía bắc Quốc lộ M, đầu xe quay hướng tây, đuôi xe quay hướng đông; trục bánh trước cách mép lòng đường phía bắc Quốc lộ M là 0,52m, cách mép lòng đường phía đông đường bê tông là 0,7m; trục bánh sau cách mép lòng đường phía bắc Quốc lộ M là 0,5m và cách mép lòng đường phía đông đướng bê tông là 0,35m. Trên maga sau xe đạp có bao tải nhựa màu trắng, bên trong chứa vỏ trấu, kích thước bao dài 1,3m, đường kính 0,43m, miệng bao quay về phía bên trái xe đạp, được may bằng dây nhựa, có lót tấm ni lông màu đỏ, trên bề mặt tấm ni lông có dính nhiều bụi bẩn.

- Trên mặt đường bê tông tại vị trí bánh trước của xe đạp có 02 vết lún hình bán nguyệt, đường kính 0,57m, tịnh tiến về hướng bắc 0,1m; điểm xa nhất phía đông của vết lún cách mép lòng đường phía đông đường bê tông là 0,97m, cách mép lòng đường phía bắc Quốc lộ M là 0,88m, tại vị trí này có vết in hằn màu đen trên mặt đường, kích thước (0,18 x 0,28)m.

- Trên mặt đường bê tông, ở vị trí giữa vết lún hình bán nguyệt, có 02 vết lún mặt đường bê tông có cùng kích thước (0,01 x 0,01)m. Vết thứ nhất cách mép lòng đường phía đông đường bê tông là 0,68m, cách mép lòng đường phía bắc Quốc lộ M là 0,8m. Vết thứ hai cách vết thứ nhất về phía bắc là 0,1m, cách mép lòng đường phía đông đường bê tông là 0,7m và cách mép lòng đường phía bắc Quốc lộ M là 0,89m.

- Nạn nhân Cao Thị T nằm xấp trên mặt đường bê tông, đầu quay hướng tây bắc, chân quay hướng đông nam, đầu nạn nhân cách mép lòng đường phía bắc Quốc lộ M là 2,3m, cách mép lòng đường phía đông đường bê tông là 1,59m, cách vết lún thứ hai ở giữa vết lún hình bán nguyệt ở trên là 1,85m.

- Xe ô tô tải biển số 77C – 083.75 đậu trên đường bê tông, đầu xe quay hướng đông bắc, đuôi xe quay hướng tây nam, trục 1 bên phải cách mép lòng đường phía đông đường bê tông là 0,4m; trục 3 bên phải cách mép lòng đường phía đông đường bê tông là 0,5m, cách giao điểm phía đông đường bê tông với Quốc lộ M là 37,7m.

Vật chuẩn: Trục bánh sau xe đạp cách mố cầu phía tây bắc của cầu cống hộp “Năm Thước” về hướng tây 08m.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 379/PY-TT ngày 27/11/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Định kết luận: Nạn nhân Cao Thị T chết do: “Chấn thương gây biến dạng hộp sọ, vỡ sọ + đa chấn thương”. (BL: 23).

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Hữu C và chủ xe ô tô tải là ông Nguyễn Hữu T1 đã khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân Cao Thị T với số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Gia đình nạn nhân Cao Thị T đã có đơn bãi nại, không yêu cầu bồi thường thêm.

Vật chứng Cơ quan CSĐT – Công an huyện Tây Sơn thu giữ được: 01 xe ô tô tải biển số 77C-083.75 và 01 xe đạp mini màu sơn tím, Cơ quan điều tra đã giao trả cho chủ sở hữu.

Tại Bản cáo trạng số 12/CT – VKSTS ngày 28/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu C về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên. Đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo Nguyễn Hữu C được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận, giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp gia đình bị hại và bị đơn dân sự không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Vợ của bị cáo đau yếu không lao động những công việc nặng nhọc được, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo và có điều kiện lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tây Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại, bị đơn dân sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22/11/2017, bị cáo Nguyễn Hữu C (có giấy phép lái xe ô tô hạng C) được ông Nguyễn Hữu T1 (Chủ xe) giao điều khiển xe ô tô tải gắn BKS 77C – 083.75 đi từ thị xã A, tỉnh B đến huyện T, tỉnh B (Từ Đông sang Tây) để chở cát. Khi đến đoạn đường Km39 Quốc lộ M thuộc thôn P, xã T, huyện T, bị cáo không chú ý quan sát, điều khiển xe chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên để xảy ra va chạm với bà Cao Thị T đang đi xe đạp cùng chiều bên làn đường dành cho xe thô sơ, gây tai nạn giao thông làm bà T chết tại chỗ do chấn thương gây biến dạng hộp sọ, vỡ sọ + đa chấn thương. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành và đã có gia đình, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã được đào tạo kỹ năng lái xe ô tô hạng C, nhiều năm lái xe ô tô tải, lẽ ra bị cáo phải có ý thức nghiêm chỉnh chấp hành luật giao thông đường bộ nhưng bị cáo có hành vi điều khiển xe chuyển hướng sang phần đường dành cho xe thô sơ và không nhường đường cho xe thô sơ đang đi cùng chiều; đồng thời không chú ý quan sát, là nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ tai nạn giao thông làm bà T chết. Hành vi của bị cáo phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng của người khác, làm mất trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý lo lắng cho những người tham gia giao thông.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục, bồi thường xong cho gia đình nạn nhân. Đại diện gia đình người bị hại tại phiên tòa tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo, xin cho bị cáo hưởng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; vợ của bị cáo đau yếu không lao động những công việc nặng nhọc được, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn (Có xác nhận của UBND xã N, thị xã A); để tạo điều kiện bị cáo tự cải tạo, có điều kiện làm ăn sinh sống và xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc bị cáo Nguyễn Hữu C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

* Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hữu C cho UBND xã N, thị xã A, tỉnh B (Nơi bị cáo cư trú) giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Hữu C thay đổi nơi cư trú thì cấp có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

* Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong, miễn xét.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Hữu C chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ