vanban.org

Bản án 17/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 23/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố : Bị cáo Phạm Xuân T và Vũ Trọng Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

1. Áp dụng : Điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự n ăm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Phạm Xuân T và Vũ Trọng Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật hình sự n ăm; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀ TRUNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 17/2018/HS-ST
Ngày: 23/4/2018

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘ

I CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Hoàng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Lê Văn Ký

2. Ông Tống Văn Tuyên

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Tư - Thư k ý Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thêm - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung , tỉnh Thanh Hoá, xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án hình sự

sơ th ẩm thụ lý số 14/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2018, theo Quyế t định đưa v ụ án ra xét xử số 17 /2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2018 đối với các bị cáo :

1/ Vũ Trọng Đ, sinh năm 1984; Tại: xã N, huyện N, Thanh Hóa; Nơi cư trú : Tổ 22, phư ờng N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: L ao động tự do; Trình độ v ăn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh ; Giới tính: Nam ; Tôn giáo: Không; Quốc tịc h: Việt Nam; Con ông Vũ Trọng H và bà Nguyễn Thị L; chư a có vợ ; Tiền sự : Không; Tiền án: 03 gồm : Ngày 28/10/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp , tỉnh Ninh Bình xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 28/11/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơ n, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản ” (giá trị tài sản 16.000.000đ); Ngày 06/8/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơ n, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 28 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản ” (giá trị tài sản 6.000.000đ); Ra trại ngày 04/7/2017; Nhân thân: Ngày 24/8/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp , tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản ”. Bị bắt t ạm giữ từ ngày 30/12/2017 đến ngày 0 5/01/2018 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

2/ Phạm Xuân T , sinh năm 1968; Tại: xã Q, TP. T, Ninh Bình; Nơi cư trú:

Thôn T, xã Q, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: L ao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Tuấn T (đã chết ) và bà Trần Thị N (đã chết ); có vợ là Ninh Thị H và có 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án:

Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày

30/12/2017 đến ngày 0 5/01/2018 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án và diễn biến tại phiên tòa , nội dung vụ án đư ợc tóm tắt như sau:

Khoả ng 17 giờ 30 phút ngày 30 tháng 12 năm 2017, Vũ Trọng Đ và Phạm Xuân T gặp nhau tại ngã tư thị x

ã Bỉ m Sơn , tỉnh Thanh Hóa , T rủ Đ đi mua ma túy về sử dụng,

Đ đồng ý rồi cả ha i cùng thống nhất góp mỗi ng

ư ời 200.000 đ, T đưa cho Đ một tờ tiền mệnh giá

200.000đ và dùng chiếc xe máy biển kiểm soát 35H3-5094 của m ình đang đi để chở Đ vào khu vự c nhà máy thuố c lá thuộ c thị trấ n Hà Trung gặ p mộ t ngườ i thanh niên không biế t tên và đị a chỉ đang đứng ở bê n đường , T dừng xe lại chỗ ngư

ời thanh niên đang đứng , Đ hỏi người thanh niên có ma túy không bán

cho 400.000đ, người này đồng ý rồi Đ

đưa tiền , cầm tiền xong ngườ

i thanh niên đưa lại cho Đ 01 (một ) gói nhỏ ma túy bọc bên n goài bằng nilon màu trắng . Đ cầm gói ma túy rồi cả hai quay xe trở về chạy dọc theo đường quốc lộ

1A, khi đi đến đoạn Ngân hàng nông nghiệp thuộc tiểu khu

6, thị trấn Hà Trung thì bị lực lượng Công an huyện Hà Trung và Công an thị trấn Hà Trung bắt quả tang

. Tang vật thu giữ là 01 (một ) gói nhỏ bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng

, kiểm tra bên trong là giấy trắng trong cùng là chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn nghi là ma túy

và 01 (một ) xe máy mang Biển kiểm soát 35H3-5094.

Tại kết luận giám

Đ số 171/MT-PC54 ngày 02/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có trọng l ư ợng là: 0, 308gam loại Herôin.

Tại bản cáo trạng số

18/CT-VKS ngày 04/4/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Phạm Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự n

ăm 2015; truy tố Vũ Trọng Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo

điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự n ăm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Vi ện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết Đ truy tố và đề nghị áp dụng : Điểm c khoản 1 (đối với T), điể m o khoản 2 (đối với Đ) Điều 249, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự n

ăm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội;

điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 3 3; Điều 53; Điều 20 Bộ luật hình sự n

ăm 1999. Đề nghị xử phạt Vũ Trọng Đ từ 06 năm đến 07 năm tù; Xử phạt Phạm Xuân T từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Đề nghị áp dụng điều 4 1 Bộ luật hình sự 1999

, khoản 2 Điều 10 6 Bộ luật tố tụng hình sự

, tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy là Hêrôin l

à mẫu vật còn lại sau giám

định , trả lại 01 xe mô tô BKS 35H3-5094 thu giữ cho bị cáo T và không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với các bị cáo.

Lời nói sau cùng các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật . Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm đư ợc trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A ÁN:

Trên cơ s ở nội dung vụ án, c

ăn cứ vào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đã đư ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội

đồng xét xử nhận

định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của C

ơ quan đi ều tra Công an huyện Hà Trung, Điều tra viên ; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra , truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự

, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

. Quá trình điều tra , truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những ng ư ời tham gia tố tụng

không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C ơ quan ti ến hành t ố tụng, ng ư ời tiến hành tố tụng.

Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của

Cơ quan ti ến hành tố tụng, ng

ư ời tiến hành tố

tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của

các bị c áo: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Trọng Đ và Phạm Xuân T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình

đúng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố

. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của ngư ời làm chứng , kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ s

ơ v ụ án là hoàn toàn phù hợ p; Hội đồng xét xử có đủ c ơ s ở kết luận : Khoảng 17 h30 ngày 30/12/2017 Phạm Xuân T rủ Vũ Trọng Đ đi mua ma túy để sử dụng.

Sau khi mua đư ợc ma túy cả hai quay về đến tiểu khu 6, thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung thì bị lực l ư ợng Công an bắt giữ. Gói ma túy có tr ọng l ư ợng 0, 308gam loại Heroin . Như vậy hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

.

Hành vi phạm tội của bị cáo đư ợc thực hiện trư ớc ngày Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, tuy nhiên tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định : Điều luật xóa bỏ một tội phạm , một hình phạt , một tình tiết tăng nặng , quy định hình phạt nhẹ hơ n, một tình tiết giảm nhẹ mới ... và các quy định khác có lợi cho ngư ời phạm tội thì đư ợc áp dụng đối với hành vi phạm tội đã đư ợc thực hiện trư ớc khi điều luật đó có hiệu lực thi hành. Vì vậy , Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung đề nghị truy tố , xét xử bị cáo Phạm Xuân T và Vũ Trọng Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ , đúng ngư ời , đúng tội , đúng pháp luật . Hội đồng xét xử sẽ áp dụng những quy định có lợi cho bị cáo khi quyết định hình phạt .

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi

phạm tội : Hành vi tàng trữ phép chất ma tuý của T và Đ đã trực tiếp xâm phạm

đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà n ư ớc về chất ma tuý, xâm phạm

đến trật tự an toàn xã hội, hành vi

đó là rất nghiêm trọng, mang tính nguy hiểm cao cho xã hội.

Các bị cáo phải biết rằng ma tuý là hiểm hoạ, là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về

đạo đức và cũng là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh h

ư ởng lớn đến trật tự trị an xã hội.

Căn cứ vào hành vi phạm tội của

các bị cáo cần phải

đư ợc x ử lý nghiêm khắc để gi áo dục c ác bị cáo và nhằm cảnh tỉnh r ăn đe phòng ngừa những kẻ có ý

đồ phạm tội nh

ư các các bị cáo. Nên cần xử cách ly

các bị cáo ra khỏi cộng

đồng xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục là cần thiết

.

[4]. Về tình tiết t ăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hìn h sự:

Là vụ án có hai bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội nh

ưng không có s ự câu kết chặt chẽ nên chỉ là

đồng phạm giản

đơn. Các b ị cáo cùng tha m gia một thời điểm . T là ngư ời khởi xứng, ng

ư ời có phương ti ện dùng đi mua ma túy, Đ là ngư ời biết nơ i bán và trực tiếp mua nên các bị cáo có vai trò ngang nhau. Ngoài ra do Đ đã tái phạm nguy hiểm ch ưa đư ợc xóa án nên bị xét xử và mức hình phạt

theo khoản 2 Điều 249 BLHS 2015, bản thân bị cáo đã nhiều lần phạm tội nh

ưng không ch ịu tu dư ỡng nên cần áp dụng m

ức hình phạt tươ ng xứng .

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự . Như ng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo . Nên cần áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS 1999 để giảm nhẹ một phần hình

phạt cho các bị cáo để bị cáo thấy đư ợc sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định của pháp luật các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền

. Tuy nhiên các bị cáo là l ao động tự do, không có thu nhập , là đối t ư ợn g nghiện ma túy, không có tài sản riêng, số l ư ợng chất ma túy tàng trữ không lớn và không nhằm mục đích kiếm lời . Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Số Heroin (vật ch ứng còn lại sau giám định ) thu đư ợc của c ác bị cáo là vật Nhà n ư ớc cấm l ưu h ành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 35H3-5094 do bị cáo T đứng tên đăng ký. Xét thấy chiếc xe bị cáo dùng đi làm nhưng do nghi ện ma túy nên dùng đi mua ma túy để sử dụng không nhằm m ụ c đích bán kiếm lời nên cần trả lại cho bị cáo

.

[7]. Đối với ngư ời thanh niên bán ma túy cho các bị cáo, do các bị cáo không biết tên tuổi , địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

[8]. Các bị cáo phải ch ịu án phí h ình sự s ơ th ẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

1. Tuyên bố : Bị cáo Phạm Xuân T và Vũ Trọng Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

1.1. Áp dụng : Điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự n

ăm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội;

Điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 53; Điều 20; Điều 33 Bộ luật hình sự n

ăm 1999.

Xử phạt : Bị cáo Phạm Xuân T : 24 (Hai mươ i bốn ) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ : 30/12/2017.

1.2. Áp dụng : Điểm o khoản 2 Điều 249, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự n

ăm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội;

Điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 53; Điều 20; Điều 33 Bộ luật hình sự n

ăm 1999.

Xử phạt : Bị cáo Vũ Trọng Đ: 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ : 30/12/2017.

2. Về xử lý vật chứng

: Áp dụng Điều 4 1 Bộ luật hình sự

năm 1999; điểm a khoản 2 , điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

;

- Tịch thu tiêu huỷ số Heroin còn lại sau giám

định có trong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

- Trả lại cho bị cáo

Phạm Xuân T chiếc xe mô tô BKS 3 5H3-5094, nhãn hiệu WAVE, màu sơn đ ỏ đen, số khung Y506951, số máy 2266217.

(Tất cả đang đư ợc l ưu gi ữ tại Chi cục thi hành án

dân sự huyện Hà Trung theo biên bản giao nhận ngày 16 /4/2018).

3. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự

; khoản 1 Điều 21 , điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc H

ội , bị cáo Vũ T rọng Đ và Phạm Xuân T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự s ơ th ẩm .

Trư ờng hợp bản án đư ợc thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì

ngư ời phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy Đ tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án

đư ợc thực hiện theo

điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo , có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ