vanban.org

Bản án 17/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Ngọc Bích.

Chị Phạm Ngọc Bích được ly hôn với anh Lê Văn Trúc. Con chung: Chị Phạm Ngọc Bích được trực tiếp nuôi con chung 02 con chung tên Lê Cẩm Tú, sinh ngày 26/6/2001 và Lê Cẩm Xuyên, sinh ngày 18/6/2009. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 17/2018/HNGĐ-ST Tuyên án 06/03/2018
Phúc thẩm Bản án 14/2018/HNGĐ-PT Tuyên án 13/06/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa Phạm Ngọc Bích và Lê Văn Trúc"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Ngọc Bích.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 06-3-2018
“V/v tranh chấp về hôn nhân
và gia đình – Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Thọ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hải

2. Bà Nguyễn Kim Phụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Thảo là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 06 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 438/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2017, “Về việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Phạm Ngọc Bích, sinh năm: 1975;

2. Bị đơn: Lê Văn Trúc, sinh năm: 1971;

Cùng địa chỉ: Số 817A, tổ 5, ấp 1, xã Mỹ Tân, TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn có mặt và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Phạm Ngọc Bích trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Ngọc Bích và anh Lê Văn Trúc có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Tân, TP. Cao Lãnh vào ngày 07/08/2009. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng bình thường, từ khi sinh đứa con đầu thì anh Lê Văn Trúc có hành vi bạo lực với chị Phạm Ngọc Bích, nhưng chị Phạm Ngọc Bích tha thứ, vợ chồng hàn gắn lo làm thuê để nuôi con. Tuy nhiên, mỗi lần uống rượu là anh Lê Văn Trúc kiếm chuyện gây gỗ và đã đánh chị nhiều lần, khi tỉnh rượu thì năn nỉ nhưng anh Lê Văn Trúc không sửa đổi, vẫn tính nào tật nấy. Vào ngày 03/10/2015 xảy ra xích mích trong gia đình vì bất đồng quan điểm trong việc dạy con mà anh Lê Văn Trúc đã đánh và hăm dọa giết chết chị. Chị Phạm Ngọc Bích có báo với Công an xã Mỹ Tân và Công an Xã có mời anh Lê Văn Trúc lên giải quyết, giáo dục răn đe nhưng anh Lê Văn Trúc vẫn không thay đổi. Chị Phạm Ngọc Bích không yêu cầu xử lý hình sự đối với anh Lê Văn Trúc. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Phạm Ngọc Bích yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn Trúc.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Cẩm Tú, sinh ngày 26/6/2001 và Lê Cẩm Xuyên, sinh ngày 18/6/2009 hiện nay con chung đang sống với chị Phạm Ngọc Bích và anh Lê Văn Trúc. Chị Phạm Ngọc Bích yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh Lê Ngọc Trúc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Ngày 15 tháng 12 năm 2017 Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh có Thông báo số 197/TB-TA yêu cầu chị Phạm Ngọc Bích nộp đơn khởi kiện đối với yêu cầu của chị Bích theo quy định. Nhưng sau thời hạn 15 ngày chị Phạm Ngọc Bích không nộp đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ theo quy định.

Anh Lê Văn Trúc trình bày:

Về hôn nhân: Anh Lê Văn Trúc thừa nhận lời trình bày của chị Phạm Ngọc Bích là đúng về thời gian kết hôn, trong quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh Lê Văn Trúc đồng ý ly hôn với chị Phạm Ngọc Bích.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Cẩm Tú, sinh ngày 26/6/2001 và Lê Cẩm Xuyên, sinh ngày 18/6/2009 hiện nay con chung đang sống với chị Bích và anh Trúc. Sau khi ly hôn anh Trúc đồng ý để chị Bích được trực tiếp nuôi con chung và không cấp dưỡng nuôi con chung do chị Bích không có yêu cầu.

Về tài sản chung: Quyền sử dụng đất là 1.807m2, loại đất CLN (không nhớ số thửa tờ bản đồ). Tại Ấp 1, xã Mỹ Tân, TP. Cao Lãnh. Hiện tại đất cho ông Út Giàu thuê từ tháng 6/2017 đến 6/2018, chị Bích cho thuê và chị Bích lấy tiền sử dụng.

- 01 căn nhà cấp 4, xây dựng trên diện tích đất 4m x 18m, diện tích đất 73m2, loại đất ở, không nhớ số thửa tọa lạc tại số 817A, Tổ 5, Ấp 1, xã Mỹ Tân, TP Cao Lãnh, Đồng Tháp. Hiện đất do vợ chồng đứng tên và đang quản lý sử dụng.

- 01 chiếc xe Wave S mua 2010, biển số 66M4-0471, chiếc xe Nuovo, không nhớ biển số chị Bích đã bán và 01 tủ lạnh, 01 tivi.

Anh Trúc yêu cầu được chia đôi tài sản chung của vợ chồng và anh Trúc đồng ý nhận giá trị tài sản. Tổng giá trị tài sản anh Trúc tự định giá 800.000.000đ và anh Trúc yêu cầu chị Bích thối lại 400.000.000đ và anh Trúc đồng ý giao tài sản lại cho chị Bích quản lý sử dụng.

Về nợ chung: Không có.

Tuy nhiên, sau khi trình bày thì anh Lê Văn Trúc tự ý bỏ về không lý do.

Ngày 15 tháng 12 năm 2017 Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh có Thông báo số 197A/TB-TA yêu cầu anh Lê Văn Trúc nộp đơn khởi kiện đối với yêu cầu của anh Trúc theo quy định. Nhưng hết thời hạn theo quy định anh Lê Văn Trúc không nộp đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ theo đơn khởi kiện của chị Phạm Ngọc Bích và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”. Bị đơn anh Lê Văn Trúc có địa chỉ tại: Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn Lê Văn Trúc đã được Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, không lý do. Căn cứ theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt anh Lê Văn Trúc.

Xét quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Ngọc Bích và anh Lê Văn Trúc kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Tân, thành phố Cao Lãnh cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/08/2009 nên là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa chị Phạm Ngọc Bích và anh Lê Văn Trúc thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị Phạm Ngọc Bích đã nhiều lần khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn Trúc. Sau đó, chị Phạm Ngọc Bích đã rút đơn để vợ chồng hàn gắn nhưng không được. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Lê Văn Trúc và chị Phạm Ngọc Bích đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh Lê Văn Trúc cũng đồng ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Phạm Ngọc Bích là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: Anh Lê Văn Trúc và chị Phạm Ngọc Bích thống nhất có 02 con chung tên Lê Cẩm Tú, sinh ngày 26/6/2001 và Lê Cẩm Xuyên, sinh ngày 18/6/2009, hiện nay con chung đang sống với chị Bích và anh Trúc. Sau khi ly hôn chị Phạm Ngọc Bích yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Anh Lê Văn Trúc đồng ý để chị Phạm Ngọc Bích được trực tiếp nuôi con chung và không cấp dưỡng nuôi con chung do chị Phạm Ngọc Bích không có yêu cầu.

Nguyện vọng của hai con chung là mong muốn được sống với mẹ.

Hội đồng xét xử xét thấy, chị Phạm Ngọc Bích yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung là phù hợp với với quy định tại khoản 2 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Theo khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên…”; và theo khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”.

Như vậy, hai bên có quyền thăm, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không bên nào được cản trở.

Cấp dưỡng: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản:

- Chị Phạm Ngọc Bích không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

- Anh Lê Văn Trúc yêu cầu chia tài sản chung là nhà, đất và các tài sản là vật dụng sinh hoạt trong gia đình. Nhưng anh Lê Văn Trúc không thực hiện các thủ tục khởi kiện chia tài sản chung theo quy định nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này anh Lê Văn Trúc có yêu cầu thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về nợ chung: Không có.

Theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình ly hôn là 300.000 đồng chị Phạm Ngọc Bích phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 00234, ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Anh Lê Văn Trúc không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Ngọc Bích.

Chị Phạm Ngọc Bích được ly hôn với anh Lê Văn Trúc.

- Con chung: Chị Phạm Ngọc Bích được trực tiếp nuôi con chung 02 con chung tên Lê Cẩm Tú, sinh ngày 26/6/2001 và Lê Cẩm Xuyên, sinh ngày 18/6/2009.

Hai bên có quyền thăm, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không bên nào được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét do đương sự không yêu cầu.

- Nợ chung: Không có.

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình:

Chị Phạm Ngọc Bích phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình về ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 00234 ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Anh Lê Văn Trúc không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Thời hạn kháng cáo của anh Lê Văn Trúc được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ