- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Hằng Mơ-Võ Văn Tình"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31-01-2018 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Hữu Hiệp;
Bà Trần Lệ Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nghi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 31 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 348/2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2017 về việc“Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Lê Hằng M, sinh năm 1995 (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị M: Bà Huỳnh Tố Trinh, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau (có mặt).
2. Bị đơn: anh Võ Văn T, sinh năm 1995 (có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp 8, xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 12 năm 2017, tại biên bản hòa giải ngày 24 tháng 01 năm 2018 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Hằng M trình bày: Năm 2016 chị và anh T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định, trong quá trình chung sống do mẹ chồng khó khăn và dùng những lời lẽ thô tục xúc phạm chị, anh T cũng thường kiếm chuyện cự cải với chị và chửi cha mẹ ruột chị, do đó chị đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống 02 tháng nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn T.
Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 23/5/2017, hiện con chung đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản hòa giải ngày 24 tháng 01 năm 2018 và tại phiên tòa bị đơn anh Võ Văn T trình bày: Về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn, có 01 con chung và nguyên nhân mâu thuẫn đúng như chị M trình bày. Nay chị M yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn, về con chung anh đồng ý giao người con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, nhưng anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con, nếu chị M không nuôi con thì giao con cho anh nuôi. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản hòa giải ngày 24 tháng 01 năm 2018 và tại phiên tòa bà Huỳnh Tố Trinh là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị M trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của chị M bà không trình bày bổ sung gì thêm. Bà đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn của chị M với anh T, về con chung đề nghị Tòa án giao con cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng và buộc anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng: Chị Lê Hằng M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn T, cư trú ấp 8, xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị M và anh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa chị M và anh T thỏa thuận tự nguyện ly hôn với nhau. Xét thấy sự thỏa thuận của chị M và anh T là phù hợp quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn của chị M với anh T.
Về con chung: Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa chị M và anh T thỏa thuận giao người con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 23/5/2017 cho chị M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy sự thỏa thuận của chị M và anh T là phù hợp quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của chị M và anh T về việc chị M được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Võ Minh K. Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa chị M yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật, nhưng anh T không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Tại khoản 2, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Áp dụng điều luật đã viện dẫn thì yêu cầu của chị M là có cơ sở chấp nhận, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M. Buộc anh T cấp dưỡng nuôi người con chung Võ Minh K, sinh ngày 23/5/2017 mỗi tháng 800.000 đồng, hình thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi người con chung Võ Minh K tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị M và anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Xét lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị M là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình chị M phải nộp 300.000 đồng và án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng anh T phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 53, 55, 57, 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Hằng M và anh Võ Văn T. (Chị M và anh T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau vào ngày 06/01/2016).
Về quyền nuôi con: Giao chị Lê Hằng M được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 23/5/2017. Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Võ Văn T cấp dưỡng cho cháu Võ Minh K, sinh ngày 23/5/2017 mỗi tháng 800.000 đồng, hình thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi cháu Võ Minh K tròn 18 tuổi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền quyết định chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình chị Lê Hằng M phải nộp 300.000 đồng, ngày 12 tháng 12 năm 2017 chị M đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011732 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, chuyển thu án phí.
Án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng anh Võ Văn T phải nộp 300.000 đồng, anh Võ Văn T có nghĩa vụ nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh khi án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; - Nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA- TAND tỉnh Cà Mau; Nguyễn Hoài Hận |