vanban.org

Bản án 17/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Nguyễn Thái B.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị H và anh B và nguyện vọng của con chung như sau: chị Nguyễn Thị Thúy H đồng ý để anh Nguyễn Thái B nuôi hai con Nguyễn Huỳnh Khôi N, sinh ngày 15/10/2008 và Nguyễn Quỳnh Thảo N, sinh ngày 03/6/2015. Anh Nguyễn Thái B không yêu cầu chị H cấp dưỡng. Chị H,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thúy H- Nguyễn Thái B"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Nguyễn Thái B.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2018/HNGĐ-ST
Ngày 10/5/2018
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông (Bà) Lê Văn Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Ánh

Ông Lê Văn Vững

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Trang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2018/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2018, về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1983;

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thái B, sinh năm 1981;

Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, Đồng Tháp.

(Chị H có mặt tại phiên tòa, anh B vắng mặt có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh B tự nguyện yêu nhau được hai bên cha mẹ tổ chức đám cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Kiều, thời gian chung thường xuyên xảy ra mâu thuẫn vì anh B làm ruộng còn chị thì đi làm anh B thường xuyên ghen tuông vô cớ, mỗi khi xảy ra mâu thuẫn anh B thường xuyên đánh đập chị sự việc kéo dài gần 11 năm chị nhiều lần bỏ qua nhưng anh B vẫn không thay đổi và ngày càng quá đáng. Sự việc đến nay đã vượt sức chịu đựng của chị và chị cũng không còn tình cảm vợ chồng nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thái B.

- Về con chung: Vợ chồng 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Khôi N, sinh ngày 15/10/2008 và Nguyễn Quỳnh Thảo N, sinh ngày 03/6/2015. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con tên Nguyễn Quỳnh Thảo N không yêu cầu anh B cấp dưỡng, con tên Nguyễn Huỳnh Khôi N có nguyện vọng sống với ai người đó nuôi. Tuy nhiên tại phiên Tòa chị H thay đổi ý kiến, chị H đồng ý để anh B nuôi hai con chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Tại biên bản hòa giải bị đơn anh Nguyễn Thái B trình bày:

- Về hôn nhân: Anh thừa nhận thời gian chung sống cũng như việc vợ chồng có đăng ký kết hôn như chị H trình bày. Thời gian chung sống vợ chồng cũng có nhiều lần xảy ra mâu thuẫn những lúc xảy ra mâu thuẫn anh có đánh chị H, nhưng anh vẫn còn thương chị H anh hứa sẽ sửa đổi anh mong chị H cho anh cơ hội để hàn gắn tình cảm nuôi dạy con nay chị H yêu cầu ly hôn anh không đồng ý.

- Về con chung: Thống nhất vợ chồng hai con chung tên Nguyễn Huỳnh Khôi N, sinh ngày 15/10/2008 và Nguyễn Quỳnh Thảo N, sinh ngày 03/6/2015, khi ly hôn anh đồng ý để chị Nguyễn Thị Thúy H nuôi hai con Nguyễn Huỳnh Khôi N và Nguyễn Quỳnh Thảo N. Anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có;

- Về nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Chị và anh B tự nguyện yêu nhau được hai bên cha mẹ tổ chức đám cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Kiều, thời gian chung thường xuyên xảy ra mâu thuẫn vì anh B làm ruộng còn chị thì đi làm anh B thường xuyên ghen tuông vô cớ, mỗi khi xảy ra mâu thuẫn anh B thường xuyên đánh đập chị sự việc kéo dài gần 11 năm chị nhiều lần bỏ qua nhưng anh B vẫn không thay đổi và ngày càng quá đáng. Sự việc đến nay đã vượt sức chịu đựng của chị và chị cũng không còn tình cảm vợ chồng nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thái B. Anh B thừa nhận thời gian chung sống cũng như việc vợ chồng có đăng ký kết hôn như chị H trình bày. Thời gian chung sống vợ chồng cũng có nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, những lúc xảy ra mâu thuẫn anh có đánh chị H, nhưng anh vẫn còn thương chị H anh hứa sẽ sửa đổi anh mong chị H cho anh cơ hội để hàn gắn tình cảm nuôi dạy con nay chị H yêu cầu ly hôn anh không đồng ý. Tại phiên tòa anh B có đơn xin vắng mặt phiên tòa. Theo quy định tại khoản 1 điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “ Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa trừ trường hợp người đó có đơn xin xét xử vắng mặt”, do đó xét xử vắng mặt đối anh Nguyễn Thái B.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014” Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” căn cứ vào lời trình bày của chị H tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, chị đều cho rằng trong quá trình chung sống anh B thường xuyên đánh đập chị, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, hôn nhân không thể kéo dài. Cho nên Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Thái B.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy H đồng ý để anh Nguyễn Thái B nuôi hai con Nguyễn Huỳnh Khôi N, sinh ngày 15/10/2008 và Nguyễn Quỳnh Thảo N, sinh ngày 03/6/2015. Anh Nguyễn Thái B không yêu cầu chị H cấp dưỡng xét thấy sự thỏa thuận của chị H và anh B và nguyện vọng của con chung phù hợp với quy định pháp luật.

Chị H, anh B có trách có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không bên nào được quyền ngăn cấm. Chị H được quyền thăm nom con không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không có;

Về nợ chung: Không có;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56, 82,83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Nguyễn Thái B.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị H và anh B và nguyện vọng của con chung như sau: chị Nguyễn Thị Thúy H đồng ý để anh Nguyễn Thái B nuôi hai con Nguyễn Huỳnh Khôi N, sinh ngày 15/10/2008 và Nguyễn Quỳnh Thảo N, sinh ngày 03/6/2015. Anh Nguyễn Thái B không yêu cầu chị H cấp dưỡng.

Chị H, anh B có trách có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không bên nào được quyền ngăn cấm. Chị H được quyền thăm nom con không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không có;

Về nợ chung: Không có;

- Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 01690 ngày 01/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Chị H đã nộp xong.

Chị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Nguyễn Thái B được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ