vanban.org

Bản án 17/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 18/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 18/12/2017./ Phòng KTNV&THA - TA Tỉnh; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn C - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NP
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2017/HSST
Ngày 18/12/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Vũ

2. Bà Bùi Thu Hằng.

Những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa:

Thư ký ghi biên bản phiên toà:

Ông Lò Văn Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Văn Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2017/HSST ngày 17/11/2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2017/HSST-QĐ ngày 05/12/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: C; sinh năm 1985 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Bản N, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lò Văn D, sinh năm 1961 và con bà Lò Thị S, sinh năm 1963; Bị cáo có vợ là Lò Thị A, sinh năm 1986; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền sự: Không; Tiền án: có 01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 03 năm tù. Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2017 cho tới nay về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 12 giờ 45 phút, ngày 15/9/2017, tổ công tác Công an huyện NP làm nhiệm vụ tại khu vực bản NG 2, xã NC, huyện NP phát hiện C có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính, qua kiểm tra người của C tổ công tác phát hiện thu giữ 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng đục (nghi là Heroine). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng đưa về cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật. Tại cơ quan điều tra Lò Văn C khai nhận: Số ma túy bị bắt quả tang trên là Heroine, C mua của người đàn ông không quen biết tên và địa chỉ của người đó ở đâu với số tiền là 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng), tại khu vực bản NG 2, xã NC, huyện NP. Mục đích mua ma túy là để sử dụng vì C là người nghiện ma túy.

Tại Biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định ngày 18/9/2017 của Công an huyện NP xác định số Heroine thu giữ của C có trọng lượng là 0,1 (Không phẩy một) gam, đã lấy mẫu giám định toàn bộ 0,1gam.

Tại Bản kết luận giám định số: 783/GĐ-PC54, ngày 11/10/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: "Mẫu vật gửi giám định vật chứng thu giữ của C là chất ma túy: Loại Heroine ".

Tại bản Cáo trạng số 79/QĐ-VKS-HS ngày 17/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194/BLHS.

Tại phiên toà, bị cáo C thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46; điển g khoản 1 Điều 48/BLHS năm 1999 và Nghị quyết số 41/2017/QH14; khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249/BLHS 2015, xử phạt bị cáo C từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Vật chứng của vụ án là Heroine nhưng tại giai đoạn điều tra đã lấy mẫu giám định hết không hoàn lại mẫu nên không đề nghị; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Không áp dụng án phí HSST theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Bị cáo C tại phiên tòa nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo C khai nhận hành vi phạm tội của mình mua ma túy về tàng trữ để sử dụng phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như bản Cáo trạng.

Do đó đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194/BLHS như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý đặc biệt các chất ma tuý của Nhà nước, mặt khác hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã NC, huyện NP. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, để có ma túy sử dụng cho cá nhân bị cáo đã mua ma túy về tàng trữ sử dụng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý không bị ai xúi giục. Hành vi của bị cáo đã và đang đi ngược lại với chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc cấm trồng, sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật để giữ vững kỷ C của pháp luật góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý trong xã hội và làm gương răn đe giáo dục các đối tượng khác đang và đã có hành vi như bị cáo nhưng chưa bị phát hiện, xử lý.

Xét nhân thân bị cáo: C xuất thân trong gia đình nông dân nhưng không chịu lao động, tu dưỡng bản thân mà nghiện ma túy bị cáo mua ma túy về tàng trữ sử dụng cho bản thân, bị cáo đã có tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 03 năm tù vừa mãn hạn tù bị cáo lại tiếp tục phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, cần áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS đối với bị cáo theo điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS. Khi bị bắt giữ bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tại phiên toà bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, gia đình bị cáo là hộ nghèo. Đây cũng là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1, 2 Điều 46 BLHS. Xong cần xử lý bị cáo thật nghiêm minh trước pháp luật, bằng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội đời thường một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo bản thân trở thành người có ích cho chính bị cáo và gia đình bị cáo.

Trong hồ sơ vụ án C còn khai nhận đã mua Heroine của người đàn ông quen không biết tên, tuổi và địa chỉ của người đàn ông đó ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định.

Xét hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 194/BLHS về hình phạt bổ sung là phạt tiền, HĐXX xét thấy bị cáo nghiện ma túy phải chấp hành hình phạt tù và gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.

Xét vật chứng của vụ án: Đã lấy mẫu giám định toàn bộ không hoàn lại mẫu, vậy hội đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý.

Xét phần án phí: Tại phiên tòa bị cáo cung cấp giấy chứng nhận hộ nghèo số:70/BCĐ ngày 01/01/2017 Giấy chứng nhận hộ nghèo của gia đình và đề nghị được miễn án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. 2. Áp dụng điểm p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 33; điểm g khoản 1 Điều 48; khoản 1 Điều 194/BLHS năm 1999; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015 và điểm b, d khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, xử phạt bị cáo C 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 15/9/2017. 3. Áp dụng Điều 99 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo C được miễn án phí HSST do gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo theo quy định.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 18/12/2017./

Cỡ chữ