- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Diễm C tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Diễm C, tuyên xử:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16A/2021/HNGĐ-ST Ngày: 07-5-2021 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Chu Giăng.
2. Bà Hồ Thị Thúy Niềm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Diễm C, sinh năm 1994 (có mặt).
Trú tại: Thôn H1, xã MT, huyện M, Bình Định.
- Bị đơn: Anh Võ Thanh H, sinh năm 1987 (Vắng mặt lần 02).
Trú tại: Xóm X, thôn A, xã V, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là chị Lê Thị Diễm C trình bày:
Chị và anh Võ Thanh H tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau được gia đình hai bên chấp nhận nhưng có tổ chức lễ cưới theo phong tục nhưng không nhớ rõ ngày tháng năm; có đăng ký kết hôn tại UBND xã V vào ngày 09/3/2017. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng không tin tưởng nhau, chồng không lo làm ăn không chăm sóc cho vợ con. Vì con nhỏ chị vẫn chịu đựng chung sống đến tháng 7/2017 thì vợ chồng cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc lẫn nhau cho đến nay. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương gì chị yêu cầu ly hôn anh Võ Thanh H.
- Về con chung: Chị và anh Võ Thanh H có 01 con chung tên Võ Minh V (nam), sinh ngày 17/8/2017. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành; không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn anh Võ Thanh H vắng mặt không có lý do: Anh Võ Thanh H đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, Quyết định xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai và yêu cầu đối với vụ án.
Tại biên bản xác minh ngày 09/02/2021, Công an xã V cung cấp: anh Võ Thanh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm X, thôn A, xã V, huyện T, tỉnh Bình Định; anh H thường đi làm ăn xa, thỉnh thoảng vẫn về nhà, chưa làm thủ tục cắt khẩu, chuyển khẩu đi nơi khác.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu ý kiến: việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ các quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên xử: Chị Lê Thị Diễm C được ly hôn anh Võ Thanh H; về con chung: giao con chung là Võ Minh V, sinh ngày 17/8/2017 cho chị Lê Thị Diễm C được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc đến trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con chung Võ Minh V: vì chị C không yêu cầu nên miễn xét; về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét. Án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng: anh Võ Thanh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
* Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Diễm C và anh Võ Thanh H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V vào ngày 09/3/2017 đúng theo quy định tại các Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi cưới, vợ chồng chung sống đến tháng 07/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do vợ chồng không tin tưởng nhau, anh H có trách nhiệm, không chăm lo làm ăn, không quan tâm vợ con. Vì con nhỏ chị C vẫn chịu đựng chung sống; nhưng đến tháng 7/2017 thì hai bên cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc lẫn nhau đến nay. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị C nhất quyết yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị C và anh Võ Thanh H có 01 con chung tên Võ Minh V, sinh ngày 17/8/2017; con chung do chị C nuôi dưỡng chăm sóc từ trước tới nay và con hiện tại chỉ 04 tuổi. Khi ly hôn chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Võ Minh V đến trưởng thành. Xét thấy: con chung Võ Minh V còn nhỏ, vẫn cần sự chăm sóc tỉ mỉ của người mẹ, để đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần cho con trẻ, áp dụng quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghị nên chấp nhận yêu cầu của chị C.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con: Chị C không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cần buộc chị Lê Thị Diễm C phải nộp án phí sơ thẩm với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0004429 ngày 02/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị C đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Diễm C, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Diễm C được ly hôn anh Võ Thanh H.
- Về con chung: Giao con chung tên Võ Minh V (nam), sinh ngày 17/8/2017 cho chị Lê Thị Diễm C tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: vì chị C không yêu cầu nên miễn xét.
Bên không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn có quyền thăm nom, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
2/ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị Diễm C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ - tạm ứng án phí đã nộp trước theo biên lai số 0004429 ngày 02/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị C đã nộp đủ án phí.
3/ Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết Bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Tây Sơn; - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn; - UBND xã Tây Vinh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Giang Nam |