vanban.org

Bản án 169

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đào Duy N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của QH qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Duy N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 169/2023/ HSST.
Ngày: 31/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NVIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan A

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân T

Ông Lê Cát T

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ng - Thư ký TAND TP T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Q - Kiểm sát viên.

Ngày 31/3/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 181/2023/HSST ngày 10/03/2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2023/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo: Đào Duy N - sinh năm: 1957; nơi ĐKNKTT tại: 233/17 N, phường N, quận 1, Thành phố H; nơi ở: Phòng 106 Nhà 20 khu chung cư Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh T: nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Đào Văn T (đã chết) và con bà Lê Thị K (đã chết); vợ là Lê Thị T, có 02 con lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 03/01/1990 bị Tòa án nhân dân quận G, Thành phố H xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản công dân”; bị bắt tạm giữ từ ngày 02/10/2022 đến ngày 08/10/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

[NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Đào Duy N bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/10/2022 Tổ công tác Công an phường Đ phối hợp với Công an phường Đ, thành phố T tuần tra kiểm soát tại khu vực trước phòng 112 nhà 13 chung cư Đ, phường Đ, thành phố T đã tiến hành kiểm tra đối với Đào Duy N; N tự giác giao nộp 02 gói nilon màu đen, kích thước 2x1cm, bên trong là giấy trắng gói chất cục bột màu trắng, N khai là Heroine cất giấu để sử dụng; Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N; ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus, số imei 353287077357552 bên trong lắp sim số 0913293352, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda LEAD BKS 36B6-969.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét nơi ở của N phát hiện, thu giữ: 01 gói nilon màu đen kích thước khoảng 2x2cm, bên trong là gói giấy chứa cục bột màu trắng đựng trong 01 hộp nhựa màu trắng để ở túi quần đùi màu trắng trong phòng tắm; 03 gói giấy màu trắng dòng kẻ kích thước 1x1,5cm chứa chất bột màu trắng được đựng trong hộp giấy, 06 gói nilon màu đen kích thước khoảng 2x2cm chứa chất cục bột màu trắng được bọc bởi chiếc tất màu trắng ghi để trong chiếc giày màu đen trên kệ giày dép; 01 phong bì thư có 05 mảnh nilon màu đen kích thước khoảng 6x6cm; 05 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, kích thước mỗi mảnh 5x5cm; 01 dao và 01 cân tiểu ly màu đen nhãn hiệu POCKET SCALE trong kho để đồ của gia đình N.

Về nguồn gốc số ma túy, N khai: khoảng 15 giờ ngày 01/10/2022 N trực tiếp gặp và mua của người đàn ông tên Thanh (N không rõ địa chỉ) 02 gói Heroine với giá 1.000.000đ và cất giữ trong túi áo ngực bên trái, khi đi đến trước Phòng 112 Nhà 3 Chung cư Đ thì bị cơ quan CSĐT công an Thành phố T phát hiện thu giữ; 10 gói ma túy Công an khám xét thu giữ tại nhà, N mua trước đó, cất giấu để sử dụng. Các mảnh giấy, mảnh nilon, dao và cân tiểu ly dùng để chia ma túy sử dụng (Bút lục số 71,72). Cơ quan điều tra tiến hành xác minh không có người đàn ông nào tên Thanh bán ma túy trên địa bàn, không thể xác minh làm rõ.

Tại Bản kết luận giám định ngày 07/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T kết luận:

- Cục bột màu trắng của gói số 1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,165 gam loại Heroine;

- Cục bột màu trắng của gói số 1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,173 gam loại Heroine;

- Cục bột màu trắng chứa trong 01 gói nilong màu đen kích thước khoảng 2x2cm niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,145 gam Heroine;

- Chất bột màu trắng chứa trong 03 gói giấy trắng có dòng kẻ, kích thước mỗi gói khoảng 1,5x1cm niêm phong gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng 0,351gam Heroine;

- Các cục bột màu trắng chứa trong 06 gói nilong màu đen, kích thước mỗi gói khoảng 2x2cm niêm phong gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng 1,048gam Heroine.

Tổng khối lượng Heroine thu giữ khi bắt quả tang và khám xét là 1,882gam Heroine.

Về xử lý vật chứng: Sau giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật giám định gồm toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được cho vào một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Lê Minh T, Bùi Quốc H, Vi Anh Q và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T (Bút lục số 34); 05 mảnh nilon màu đen kích thước khoảng 6x6cm; 05 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, kích thước mỗi mảnh 5x5cm; 01 dao và 01 cân tiểu ly màu đen nhãn hiệu POCKET SCALE được chuyển đến Chi cục THADS T để xử lý theo quy định.

Đối với 01 điện thoại Iphone 6s Plus, số imei 353287077357552 bên trong lắp sim số 0913293352, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda LEAD BKS 36B6-969.46 thuộc sở hữu của bà Lê Thị T, không liên quan đến hành vi phạm tội của N, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T trả lại cho bà Lê Thị T.

Cáo trạng số 132/CT-VKSTPTH ngày 10/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố Đào Duy N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố T luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Về vật chứng: Áp dụng: khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định và 05 mảnh nilon màu đen; 05 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 dao lamvà 01 cân tiểu ly màu đen.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Do nghiện ma túy. Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 01/10/2022, tại trước phòng 112 nhà 13 chung cư Đ, phường Đ, thành phố T, Đào Duy N đã có hành vi tàng trữ 1,882 gam Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đào Duy N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Đào Duy N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và khung hình phạt áp dụng xét xử đối với bị cáo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS

. Bị cáo là đối tượng biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống trong các quan hệ xã hội, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa lành mạnh. Đặc biệt ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây truyền căn bệnh HIV/AIDS phát triển, nhất là đối với những người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vì có tác hại như vậy nên nhà nước ta đã có nhiều biện pháp tuyên truyền giáo dục, nhằm ngăn chặn các tệ nạn và hoạt động có liên quan đến ma túy. Trong vụ án này bị cáo vì nghiện ma túy dẫn đến phạm tội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân, tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

Trong vụ án này bị cáo xuất phát từ việc vợ bị cáo bị bệnh Ung thư não thường xuyên phải nằm viện, nên bị cáo mới sử dụng Heroin để tỉnh táo chăm vợ, nên dẫn đến việc phạm loại. Vì bị cáo phạm tội nghiêm trọn, nên cần phải cách ly khỏi xã hội để bị cáo có thời gian cải tạo, sữa chữa sai phạm. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo và ngày 2/5/2022 Ủng hộ, giúp đỡ Trung tâm nuôi dưỡng và bảo trợ trẻ em ở quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh và Ủng hộ các cháu làng trẻ SOS tỉnh T. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Trong vụ án này bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số ma túy thu được của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành cùng với 05 mảnh ni lon màu đen; 05 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 02 dao lam và 01 cân tiểu ly màu đen có dòng chữ Pocket scale là vật không có giá trị sử dụng, cần áp dụng khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và 05 mảnh ni lon màu đen; 05 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 02 dao lam và 01 cân tiểu ly màu đen có dòng chữ Pocket scale.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đào Duy N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của QH qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Đào Duy N 15(mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2022.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, kèm chữ ký, chữ viết của Lê Minh Tiến, Bùi Quốc Hưng, Vi Anh Quyền.

Tịch thu tiêu hủy 05 mảnh ni lon màu đen; 05 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 02 dao lam và 01 cân tiểu ly màu đen có dòng chữ Pocket scale. Hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng số 119/2023/THA ngày 14/3/2023.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ