vanban.org

Bản án 169/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Đảng, Phạm Thị Lương

Vũ Văn Hùng, Nguyễn Văn Vốn , Vũ Văn Bằng, Vũ Văn Trung phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Vũ Văn Toàn bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/8/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Toàn - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Đảng, Phạm Thị Lương
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:169/2026/HS-ST
Ngày: 06/8/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Trần Anh Đức;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Công Soạn và ông Phạm Thu Hà;

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đỗ Mạnh Hoàng – Kiểm sát viên;

Ngày 06/8/2026, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 151/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2026/QĐXXST-HS ngày 08/7/2026 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Văn Toàn, sinh ngày 04/9/1988 tại tỉnh Quảng Ninh; giới tính: nam; nơi cư trú tại: khu phố Liên Hòa 7, phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; học vấn: 5/12; bố là ông Vũ Văn Mạnh và mẹ là bà Hoàng Thị Son; có vợ là Lê Thị Trang; có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2026; tiền án,tiền sự: không. Bị cáo tự thú ngày 18/3/2026 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn” Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 19/3/2026. Hiện đang tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa;

2. Họ và tên: Nguyễn Văn Đảng, sinh ngày 03/02/1956 tại tỉnh Quảng Ninh; giới tính: nam; nơi cư trú tại: khu phố Liên Hòa 8, phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; học vấn: 9/10; bố là ông Nguyễn Văn Oanh (đã chết) và mẹ là bà Đỗ Thị Giếng (đã chết); có vợ là Phạm Thị Lương; có hai con, con lớn sinh năm 1983, con nhỏ sinh năm 1989; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 10/3/2026 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn” Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 10/3/2026. Hiện đang tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa;

3. Họ và tên: Phạm Thị Lương, sinh ngày 05/02/1960 tại tỉnh Quảng Ninh; giới tính: nữ; nơi cư trú tại: khu phố Liên Hòa 8, phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; học vấn: 10/10; bố là ông Phạm Văn Cược(đã chết) và mẹ là bà Bùi Thị Nụ (đã chết); có chồng thứ nhất là liệt sỹ Lê Xuân Tứ (hy sinh năm 1981), chồng hiện tại là ông Nguyễn Văn Đảng; có hai con, con lớn sinh năm 1983, con nhỏ sinh năm 1989; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 10/3/2026 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn” Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 10/3/2026. Hiện đang tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa;

Là Đảng viên đảng cộng sản việt nam, bị khai trừ Đảng theo quyết định số 20-QĐ/UBKTĐU ngày 11/5/2026 của UBKT Đảng ủy phường Liên Hòa.

4. Họ và tên: Vũ Văn Hùng, sinh ngày 25/10/1970 tại tỉnh Quảng Ninh; giới tính: nam; nơi cư trú tại: khu phố 2, phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; học vấn: 7/12; bố là ông Vũ Văn Hiền (đã chết) và mẹ là bà Đỗ Thị Lĩnh; có vợ là Đinh Thị Tuyến; có ba con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ nhất năm 2013; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 12/3/2026 và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2026 đến ngày 04/6/2026 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Hiện đang tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa;

5. Họ và tên: Nguyễn Văn Vốn, sinh ngày 01/5/1984 tại tỉnh Quảng Ninh; giới tính: nam; nơi cư trú tại: khu phố Liên Hòa 7, phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; học vấn: 7/12; bố là ông Nguyễn Văn Giống và mẹ là bà Nguyễn Thị Cường, có vợ là Đào Thị Thu Hoàn (đã ly hôn); có ba con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 11/3/2026 và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2026 đến ngày 19/3/2026 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Hiện đang tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa;

6. Họ và tên: Vũ Văn Bằng, sinh ngày 02/01/1979 tại tỉnh Quảng Ninh; giới tính: nam; nơi cư trú tại: khu phố Liên Hòa 7, phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; học vấn: 6/12; bố là ông Vũ Văn Mạnh và mẹ là bà Hoàng Thị Son, có vợ là Cao Lệ Hà; có hai con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 11/3/2026 và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2026 đến ngày 19/3/2026 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Hiện đang tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa;

7. Họ và tên: Vũ Văn Trung, sinh ngày 29/7/1990 tại tỉnh Quảng Ninh; giới tính: nam; nơi cư trú tại: khu phố 2, phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; học vấn: 10/12; bố là ông Vũ Văn Thắng (đã chết) và mẹ là bà Lê Thị Thúy, có vợ là Nguyễn Thị Dung; có ba con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 12/3/2026 và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2026 đến ngày 19/3/2026 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Hiện đang tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa;

8. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

- Chị Lê Thị Trang, sinh năm 1991; Địa chỉ: khu phố Liên Hòa 7, phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bà Đỗ Thị Lĩnh, sinh năm 1933; Địa chỉ: khu phố 2, phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn Tâm, sinh năm 1983; Địa chỉ: khu phố 3, phường Hà Lầm, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt.

- Chị Cao Lệ Hà, sinh năm: 1981; Địa chỉ: khu phố Liên Hòa 7, phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh.Có mặt.

9. Người chứng kiến: Chị Lò Thị Tiên; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 10/3/2026, Công an tỉnh Quảng Ninh kiểm tra hành chính nơi ở của Nguyễn Văn Đảng tại số nhà 644, khu phố Liên Hòa 8, phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh, phát hiện thu giữ tại phòng bếp 03 tờ giấy hình chữ nhật có kích thước (15,5x10)cm, có nhiều chữ số bằng mực màu xanh khác nhau; 02 tờ giấy hình chữ nhật có kích thước (29x21)cm, có nhiều chữ số bằng mực màu xanh khác nhau; 09 tờ giấy hình chữ nhật có kích thước (21x14)cm, có nhiều chữ số bằng mực màu xanh khác nhau; 10 tờ giấy hình chữ nhật kích thước (10x06)cm, không ghi chữ số gì; 02 bút bi mực xanh; 01 túi xách bằng da màu nâu; 01 máy tính nhãn hiệu Casio và số tiền 16.224.000 đồng có liên quan đến hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bằng dưới hình thức bán số lô, số đề cho nhiều người. Nên Nguyễn Văn Đảng (sinh ngày 3/2/1956, 70 tuổi 1 tháng) và Phạm Thị Lương (vợ Đảng) xin ra đầu thú, đồng thời Đảng, Lương tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu xám, gắn sim số 0967.833.716; 01 điện thoại Iphone 11, màu đen, gắn sim số 0382.398.128.

Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, khám xét khẩn cấp nhà của Đảng và Lương, thu giữ trên mặt bàn phòng ngủ tầng 1: 01 tờ giấy (loại giấy lịch), trên một mặt có ghi chữ và số bằng mực màu đen và mực màu xanh; 01 tờ giấy một mặt giấy in chữ số, kẻ dòng bằng mực màu đen, ghi các chữ số bằng mực màu xanh, mặt còn lại ghi các chữ số bằng mực màu xanh; 17 tờ giấy kích thước to nhỏ khác nhau, trên các mặt tờ giấy có ghi chữ và số bằng mực màu xanh và 378.550.000 đồng.

Căn cứ lời khai của Đảng, Lương và các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập. Trong các ngày 11/3/2026 và ngày 18/3/2026, lần lượt Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Vốn, Vũ Văn Bằng đến Công an đầu thú khai nhận hành vi đánh bạc của mình. Đồng thời, Vốn tự nguyện giao nộp 1 chiếc điện thoại Oppo, màu đen và khai nhận nhiều lần mua số lô, số đề của Vũ Văn Hùng; Bằng tự nguyện giao nộp 27.000.000 đồng.

Tiến hành khám xét nhà, nơi ở của Toàn tại khu Liên Hòa 7, phường Liên Hòa, thu giữ 01 sổ ghi chép, bìa màu đen, bên trong sổ ghi nhiều nội dung khác nhau và 33.700.000 đồng.

Trên cơ sở tài liệu điều tra, ngày 12/3/2026, Cơ quan điều tra bắt giữ, khám xét khẩn cấp, đối với Vũ Văn Hùng về hành vi đánh bạc, thu giữ tại nhà Hùng tại khu phố 2, phường Quảng Yên gồm: 01 điện thoại Samsung Galaxy S21 Ultra 5G gắn sim số 0904.517.688; 1 điện thoại Vivo Y21 màu xanh bạc gắn sim số 0344.408.370; 5 tờ tích kê có kích thước (10,3x7,4)cm, không in nội dung gì; 1 quyển vở ngang có bìa màu xanh, từ trang 1-4 có ghi “10-3-2026” và các số lô, đề khác nhau, từ trang 5-8 có ghi “11-3-2026” và các số lô, đề khác nhau; 01 tờ lịch kích thước (34x23,6)cm, một mặt in số, chữ ngày, một màu trắng có ghi “11-3-2026” và các số lô, đề khác nhau; 01 bút bi màu xanh Thiên Long; 9 tờ in kết quả sổ xố truyền thống các ngày khác nhau và 42.690.000 đồng. Căn cứ kết quả điều tra và biết Hùng bị bắt, cùng ngày 12/3/2026, Vũ Văn Trung tự nguyện đến Công an đầu thú khai nhận hành vi mua số lô, số đề của Vũ Văn Hùng. Đồng thời Trung tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Samsung Galaxy S24 Ultra màu xám gắn sim số 0921.919.968.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận như sau: Do muốn kiếm thêm thu nhập (tiền) để tiêu sài, nên từ khoảng cuối năm 2025, Toàn sử dụng tài khoản Zalo tên “Cháu phát lộc 686868”, đăng ký bằng số điện thoại 0989.304.759 thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho người khác để thu lợi. Toàn trực tiếp bán số lô, số đề cho Bằng (anh ruột Toàn) và mua lại bảng số lô, số đề của vợ chồng Đảng, Lương.

Theo đó, số lô, số đề bao gồm hai chữ số; “ba càng” gồm ba chữ số; số xiên hai, xiên ba, xiên bốn tương ứng là bộ hai số, ba số, bốn số lô. Người chơi đặt tiền cược trực tiếp vào số lô, đề, xiên, số “ba càng” mình chọn, riêng số lô sẽ đặt cược theo điểm, tương ứng 23.000đ/ 01điểm (hai mươi ba nghìn đồng trên một điểm lô). Căn cứ vào kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng cùng ngày để tính thắng, thua. Nếu số đề trùng với hai số cuối, số đề ba càng trùng với ba số cuối của giải đặc biệt; số lô, các số trong bộ số xiên trùng với hai số cuối của tất cả các giải thì người chơi thắng cược. Nếu số lô trùng từ hai lần trở lên thì số tiền thắng cược được nhân tương ứng với số lần trùng. Từ đó sẽ trả cho người chơi số tiền tương ứng với 80 (tám mươi) lần số tiền cược đề, 400 (bốn trăm) lần số tiền cược ba càng; 10 (mười), 40 (bốn mươi) lần tương ứng với số tiền cược xiên hai, xiên ba và 80.000đ/01 điểm lô (tám mươi nghìn đồng trên một điểm lô). Toàn bộ số tiền thắng, thua sẽ thanh toán với nhau vào ngày hôm sau bằng tiền mặt. Đảng, Lương hưởng 15% tổng số tiền đề, 20% tổng số tiền lô xiên, 100 đồng/1 điểm lô.

Đối với Vũ Văn Hùng, cũng do không có công việc ổn định nên nảy sinh ý định đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho nhiều người từ đầu năm 2026 bằng hình thức đến mua, bán trực tiếp tại nhà Hùng ở khu phố 2, phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Cách thức bán số lô, số đề cũng như Đảng, Lương bán cho nhiều người như đã nêu trên.

Cụ thể hành vi đánh bạc của các bị cáo như sau:

Hành vi đánh bạc của Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Vốn, Vũ Văn Bằng, Nguyễn Văn Đảng và Phạm Thị Lương:

(1) Ngày 27/11/2025, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô với số tiền là 2.200.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 8.000.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 10.200.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(2) Ngày 13/12/2025, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô 2 số, lô xiên hai, lô xiên ba với số tiền là 3.410.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 8.000.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 11.410.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(3) Ngày 14/12/2025, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô với số tiền là 5.500.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn không trúng thưởng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 5.500.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(4) Ngày 12/01/2026, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô với số tiền là 5.500.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 14.500.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 25.500.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(5) Ngày 15/01/2026, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô với số tiền là 3.300.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 24.000.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 27.300.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(6) Ngày 27/01/2026, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô với số tiền là 2.420.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 3.200.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 5.620.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(7) Ngày 29/01/2026, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô với số tiền là 1.100.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 4.800.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 5.900.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(8) Ngày 08/2/2026, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô với số tiền là 1.650.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 8.000.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 9.650.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(9) Ngày 10/2/2026, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô với số tiền là 1.760.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 4.000.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 5.760.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(10) Ngày 11/02/2026, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô 2 số, lô xiên ba với số tiền là 2.130.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 7.200.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 9.330.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(11) Ngày 12/02/2026, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô 2 số, lô xiên ba với số tiền là 2.130.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 3.030.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 5.160.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(12) Ngày 24/02/2026, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô với số tiền là 1.760.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 6.400.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 8.160.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(13) Ngày 26/02/2026, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô với số tiền là 3.300.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 2.400.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 5.700.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(14) Ngày 07/3/2026, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô với số tiền là 1.980.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 3.200.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 5.180.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(15) Ngày 09/3/2026, Vốn nhắn tin cho Bằng để mua số lô với số tiền là 1.100.000 đồng. Sau khi tổng hợp, Bằng chuyển bảng này cho Toàn. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 4.000.000 đồng. Tổng số tiền Toàn, Vốn và Bằng đánh bạc là 5.100.000 đồng.

Ngoài ra ngày 09/3/2026 Đảng, Lương bán số lô, số đề cho nhiều người với tổng số tiền là 48.527.000 đồng (gồm tiền số đề 2 số là 15.319.000 đồng, tiền số lô là 29.127.000 đồng, tiền số đề 3 số là 3.291.000 đồng, tiền lô xiên là 790.000 đồng). Sau khi tổng hợp thì Đảng, Lương chuyển và bán lại bảng số lô, số đề trên cho Toàn. So sánh với kết quả xổ sổ kiến thiết mở thưởng cùng ngày, những người mua số lô, số đề của Đảng, Lương thắng là 49.280.000 đồng. Tổng số tiền Đảng, Lương đánh bạc với Toàn là 97.807.000 đồng.

Tổng số tiền Toàn đánh bạc ngày 09/3/2026 là 102.907.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(16) Ngày 10/3/2026, cũng tại nhà Đảng, Lương hai người này tiếp tục bán số lô, số đề cho nhiều người với tổng số tiền là 53.294.000 đồng, nhưng chưa kịp chuyển bảng cho Toàn thì bị lực lượng công an kiểm tra hành chính, thu giữ vật chứng liên quan. Tổng số tiền Đảng, Lương đánh bạc với Toàn là 53.294.000 đồng.

Hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn Vốn, Vũ Văn Hùng:

(1) Ngày 07/01/2026, Vốn nhắn tin cho Hùng mua số lô của Hùng với số tiền là 1.320.000 đồng. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn trúng thưởng 4.000.000 đồng. Tổng số tiền Vốn đánh bạc Hùng là 5.320.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

(2) Ngày 23/01/2026, Vốn nhắn tin cho Hùng mua số lô của Hùng với số tiền là 5.170.000 đồng. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Vốn không trúng thưởng. Tổng số tiền Vốn đánh bạc Hùng là 5.170.000 đồng. Các bên đã thanh toán cho nhau.

Hành vi đánh bạc của Vũ Văn Hùng, Vũ Văn Trung:

(1) Ngày 10/3/2026, tại nhà Hùng ở khu phố 2, phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, Hùng đã bán số lô, số đề cho nhiều người với tổng số tiền là 19.645.000 đồng. Trong đó, Trung mua số lô 2 số, lô xiên 3, số đề của Hùng với số tiền là 8.800.000 đồng, so sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Trung trúng thưởng 8.000.000 đồng. Tổng số tiền là Trung đánh bạc với Hùng là 16.800.000đ đồng. Trung và Hùng đã thanh toán cho nhau.

Tổng số tiền Hùng đánh bạc là 27.645.000 đồng.

(2) Ngày 11/3/2026, Hùng tiếp tục bán số lô, số đề cho nhiều người với tổng số tiền là 16.500.000 đồng. Trong đó, Trung mua số lô 2 số, lô xiên 3, số đề của Hùng với số tiền là 8.800.000 đồng, so sánh với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày, Trung không trúng thưởng. Tổng số tiền là Trung đánh bạc với Hùng là 8.800.000đ đồng. Trung và Hùng chưa thanh toán cho nhau.

Số tiền Hùng đánh bạc là 16.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, thu giữ điện thoại của các bị cáo, mở và kiểm tra các điện thoại xác định tại ứng dụng Zalo, file ghi âm điện thoại của: Đảng, Vốn, Hùng, Trung có các dữ liệu chuyển đi, đến các tin nhắn, hình ảnh, chữ, số liên quan đến việc chuyển bảng số lô, số đề, phù hợp với nội dung vụ án và lời khai các bị cáo.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Đảng, Phạm Thị Lương, Vũ Văn Hùng, Nguyễn Văn Vốn, Vũ Văn Bằng và Vũ Văn Trung khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:

- Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax gắn sim số 0967.833.716 thu giữ của Phạm Thị Lương; 01 điện thoại Vivo Y21, gắn sim số 0344.408.370 thu giữ của Vũ Văn Hùng, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu,

- Đối với 04 điện thoại di động kèm sim các loại, 03 bút bi mực màu xanh; 01 túi xách bằng da màu nâu; 01 máy tính nhãn hiệu Casio, hiện đang lưu giữ và bảo quản tại kho vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh chở xử lý.

- Đối với 49 tờ giấy có ghi chữ, số có kích thước khác nhau, 01 quyển vở kẻ ngang bìa màu xanh ghi số lô, số đề; 09 tờ in kết quả xổ số truyền thống các ngày khác nhau chuyển theo hồ sơ vụ án.

- Đối với số tiền 16.224.000 đồng và 378.550.000 đồng tạm giữ của Phạm Thị Lương và Nguyễn Văn Đảng; số tiền 42.690.000 đồng tạm giữ của Vũ Văn Hùng; số tiền 27.000.000 đồng tạm giữ của Vũ Văn Bằng; số tiền 33.700.000 đồng tạm giữ của Vũ Văn Toàn, Cơ quan điều tra chuyển đến phòng giao dịch số 14 - Kho bạc nhà nước khu vực 3 để quản lý theo quy định.

Tại cáo trạng số 127/CT-VKSKV2 ngày 02/7/2026, của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh truy tố các bị cáo Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Đảng, Phạm Thị Lương về tội "Đánh bạc" theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Vũ Văn Hùng, Nguyễn Văn Vốn , Vũ Văn Bằng, Vũ Văn Trung bị Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh truy tố về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự..

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị:

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn Toàn 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm v, x, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Lương từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng kể từ ngày tuyên án.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm o,p,s,t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng kể từ ngày tuyên án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm t,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn Hùng từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Vốn từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn Bằng từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm t,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn Trung từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 và và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

+ Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo Vũ Văn Toàn là 84.691.500đ (tám mươi bốn triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn năm trăm đồng).

+ Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Văn Vốn là 106.860.000đ (một trăm kinh sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng).

+ Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo Phạm Thị Lương là 1.537.500đ (một triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

+ Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Văn Đảng là 1.537.500đ (một triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

+ Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo Vũ Văn Hùng là 51.435.000đ (năm mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

+ Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo Vũ Văn Trung là 8.000.000đ (tám triệu đồng).

- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 53.294.000đ (năm mươi ba triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng và số tiền 16.224.000đ (mười sáu triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Đảng và Lương do bán số lô, số đề cho người khác;

- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 16.500.000 đồng của bị cáo Hùng (thu trong tổng số tiền 42.690.000 đồng tại nhà Hùng) do bán số lô, số đề cho người khác.

- Tịch thu tiêu hủy 01 máy tính Casio, 02 bút bi màu xanh, 01 bút bi Thiên Long, 01 túi xách bằng da màu nâu, 04 sim điện thoại 0382.398.128, 0904.517.688, 0333.884.327, 0921.919.968.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 04 chiếc điện thoại di động bao gồm: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu đen thu giữ của Nguyễn Văn Đảng; 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S21 Ultra 5G màu bạc thu của giữ của Vũ Văn Hùng; 01 điện thoại Oppo màu đen thu giữ của Nguyễn Văn Vốn; 01 điện thoại Samsung Galaxy S24 Ultra thu giữ của Vũ Văn Trung.

- Trả lại người có quyền và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Tâm số tiền 378.550.000đ (ba trăm bảy mươi tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng), trả lại người có quyền và nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị Trang số tiền 33.700.000đ (ba mươi ba triệu bảy trăm nghìn đồng), trả lại người có quyền và nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị Lĩnh số tiền 26.190.000đ (hai mươi sáu triệu một trăm chín mươi nghìn đồng), trả lại người có quyền và nghĩa vụ liên quan là chị Cao Lệ Hà số tiền 27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng).

Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Chỉ vì ham lời vật chất mà các bị cáo làm những việc vi phạm pháp luật. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Đối với người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX tiếp tục xét xử vụ án.

Ðối với người làm chứng. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. HĐXX nhận thấy sự vắng mặt của người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên HĐXX tiếp tục xét xử vụ án.

Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa về cơ bản giống với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh đã truy tố đối với các bị cáo, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được, vì vậy đủ cơ sở kết luận:

(1) Trong các ngày 27/11/2025, 13/12/2025, 14/12/2025, 12/01/2026, 15/01/2026, 27/01/2026, 29/01/2026, 08/2/2026, 10/2/2026, 11/02/2026, 12/02/2026, 24/02/2026, 26/02/2026, 07/3/2026 Toàn, Vốn, Bằng đánh bạc với nhau với tổng số tiền lần lượt là: 10.200.000 đồng, 11.410.000 đồng, 5.500.000 đồng, 25.500.000 đồng, 27.300.000 đồng, 5.620.000 đồng, 5.900.000 đồng, 9.650.000 đồng, 5.760.000 đồng, 9.330.000 đồng, 5.160.000 đồng, 8.160.000 đồng, 5.700.000 đồng, 5.180.000 đồng. (2) Ngày 09/3/2026, Toàn, Vốn, đánh bạc với số tiền là 5.100.000 đồng và Toàn, Đảng, Lương đánh bạc số tiền 97.807.000 đồng. Toàn đánh bạc với tổng số tiền 102.907.000 đồng. (3) Ngày 10/3/2026, Đảng, Lương, Toàn đánh bạc với nhau với tổng số tiền 53.294.000 đồng. (4) Ngày 07/01/2026 23/01/2026, Vốn và Hùng đánh bạc với nhau với số tiền lần lượt là 5.320.000 đồng, 5.170.000 đồng. (5) Ngày 10/3/2026, 11/3/2026, Hùng đánh bạc với số tiền là 27.645.000 đồng và 16.500.000 đồng, trong đó có Trung đánh bạc với Hùng vào các ngày trên lần lượt là 16.800.000 đồng và 8.800.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi của các bị cáo Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Đảng, Phạm Thị Lương đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự, hành vi của các bị cáo Vũ Văn Hùng, Nguyễn Văn Vốn, Vũ Văn Bằng, Vũ Văn Trung đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 127/CT-VKSKV2 ngày 02/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

3.1.Về hình phạt chính:

Xét về vai trò đồng phạm của các bị cáo: Các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc, bằng hình thức được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô, số đề không có bàn bạc, không có sự phân công vai trò, nhiệm vụ của từng người nên xác định đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. Trong vụ án này vai trò của các bị cáo như sau: Bị cáo Bằng đặt gom và mua bảng lô, bảng đề của người chơi hàng ngày rồi chuyển lại cho Toàn để hưởng lợi nhuận, bị cáo Vốn mua số lô, số đề của Bằng, Hùng, bị cáo Trung mua số lô, đề của bị cáo Hùng. Các bên thống nhất chuyển bảng số lô, số đề gửi qua zalo. Các bị cáo Đảng, Lương cũng chuyển số lô, số đề qua zalo cho Toàn để hưởng hoa hồng và tự thu mua bảng số lô, số đề. Vì vậy trong vụ án này bị cáo Toàn có vai trò đầu vụ, bị cáo Đảng, Lương, Hùng có vai trò thứ hai, bị cáo Bằng, Vốn, Trung có vai trò sau cùng. Mức hình phạt của các bị cáo được phân hoá theo vai trò, số tiền dùng vào việc đánh bạc, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Đảng, Phạm Thị Lương, Vũ Văn Hùng, Nguyễn Văn Vốn, Vũ Văn Bằng và Vũ Văn Trung nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Đảng, Phạm Thị Lương, Vũ Văn Hùng, Nguyễn Văn Vốn, Vũ Văn Bằng và Vũ Văn Trung chưa phạm tội lần nào, có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Đảng, Phạm Thị Lương, Vũ Văn Hùng, Nguyễn Văn Vốn, Vũ Văn Bằng và Vũ Văn Trung quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn Đảng là người trên 70 tuổi; là người khuyết tật nặng (mất 1 chân) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o, p khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

Bị cáo Phạm Thị Lương là giáo viên đã nghỉ hưu, quá trình công tác trước đây có nhiều năm đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở và được tặng thưởng nhiều huy chương, gia đình có công với cách mạng, khi sinh sống tại địa phương có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng cộng đồng dân cư; là vợ của liệt sĩ, mặc dù đã kết hôn nhưng vẫn thờ cúng liệt sĩ (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Vũ Văn Toàn sau khi mua lại bảng số lô, số đề với bị cáo Đảng, Lương đã ra đầu thú và tiếp tục khai ra thêm những lần mua số lô, số đề của Bằng, Vốn nên được áp thêm tình tiết giảm nhẹ tự thú theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đồng thời bị cáo Vũ Văn Toàn sức khỏe yếu bị u tuyến giáp (vừa phẫu thuật ngày 14/4/2026), thoái hóa cột sống thắt lưng, gai xương các thân đốt sống, hẹp khe đĩa đệm, rối loạn chuyển hóa (tăng axit uric, tăng mỡ máu, men gan) đang phải điều trị định kì; là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh khó khăn, vợ vừa sinh con nhỏ (sinh tháng 2/2026), không có công việc gì (có xác nhận của chính quyền địa phương), nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Vốn, Hùng, Trung, Đảng quá trình điều tra tự nguyện giao nộp các điện thoại ghi nhận dữ liệu liên quan đến hành vi đánh bạc, đồng thời tích cực phối hợp với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra các bị cáo Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Đảng, Phạm Thị Lương,Nguyễn Văn Vốn,Vũ Văn Bằng,Vũ Văn Trung sau khi phạm tội đều tự nguyện đến cơ quan Công an đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét hành vi phạm tội của các bị cáo và đánh giá nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng như vai trò đồng phạm của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo lại có lý lịch rõ ràng, có nơi cư trú ổn định, đều phạm tội lần đầu nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, mà chỉ cần giao các bị cáo cho địa phương và gia đình giám sát giáo dục cũng đảm bảo giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải. Việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Xét mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo nên cần được chấp nhận.

3.2. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định pháp luật, ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo nhưng xét thấy các bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với số tiền các bị cáo đánh bạc qua ứng dụng zalo để nhắn tin mua số lô, số đề bao gồm:

- Đối với số tiền Đảng, Lương bán số lô, số đề cho nhiều người vào ngày 09/3/2026 với tổng số tiền là 48.527.000 đồng (gồm tiền số đề 2 số là 15.319.000 đồng, tiền số lô là 29.127.000 đồng, tiền số đề 3 số là 3.291.000 đồng, tiền lô xiên là 790.000 đồng). Sau khi tổng hợp thì Đảng, Lương chuyển và bán lại bảng số lô, số đề trên cho Toàn. So sánh với kết quả xổ sổ kiến thiết mở thưởng cùng ngày, những người mua số lô, số đề của Đảng, Lương thắng là 49.280.000 đồng. Số tiền 49.280.000 đồng Đảng và Lương đã chuyển cho người chơi trúng thưởng hết nên không truy thu được. Đối với số tiền 48.527.000 đồng, Đảng và Lương đã thỏa thuận chia lợi nhuận với Toàn là Đảng, Lương hưởng 15% tổng số tiền đề, 20% tổng số tiền lô xiên, 100 đồng/1 điểm lô. Các bên cũng đã thanh toán cho nhau nên số tiền Đảng và Lương được hưởng là 3.075.000 đồng (mỗi bị cáo hưởng lợi 1.537.500 đồng). Số tiền Toàn được hưởng là 45.451.500 đồng. Đây là số tiền thu lời bất chính của các bị cáo nên cần truy thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền bị cáo Toàn đánh bạc với bị cáo Vốn là 39.240.000 đồng là tiền thu lời bất chính cần truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền bị cáo Vốn đánh bạc với bị cáo Bằng, Toàn là 106.860.000đ (một trăm kinh sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng) là tiền thu lời bất chính cần truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền bị cáo Hùng đánh bạc với bị cáo Vốn và bị cáo Trung tổng cộng là 51.435.000đ (năm mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng) là tiền thu lời bất chính cần truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 53.294.000 đồng và số tiền 16.224.000 đồng thu giữ của bị cáo Đảng và Lương do bán số lô, số đề cho người khác là tiền thu lời bất chính cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền bị cáo Vũ Văn Trung đánh bạc là 8.000.000đ (tám triệu đồng) là số tiền thu lời bất chính cần truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 03 bút bi màu xanh, 01 túi xách bằng da màu nâu, 02 sim điện thoại 0382.398.128, 0904.517.688 là vật chứng của vụ án liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax gắn sim số 0967.833.716 thu giữ của Phạm Thị Lương; 01 điện thoại Vivo Y21, gắn sim số 0344.408.370 thu giữ của Vũ Văn Hùng, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Đối với 04 chiếc điện thoại di động bao gồm: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu đen thu giữ của Nguyễn Văn Đảng; 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S21 Ultra 5G màu bạc thu của giữ của Vũ Văn Hùng; 01 điện thoại Oppo màu đen thu giữ của Nguyễn Văn Vốn; 01 điện thoại Samsung Galaxy S24 Ultra thu giữ của Vũ Văn Trung là vật chứng của vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần tịch thu điện thoại sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 378.550.000 đồng thu giữ tại gia đình bị cáo Lương và bị cáo Đảng, qua xác minh và thu thập chứng cứ xác định đây là số tiền thuộc sở hữu của người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là anh Nguyễn Văn Tâm (con trai bị cáo Lương và Đảng) chuyển cho các bị cáo Đảng, Lương để xây dựng phòng trọ cho thuê, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại anh Nguyễn Văn Tâm.

- Đối với số tiền 33.700.000 đồng thu giữ tại gia đình bị cáo Toàn, qua xác minh và thu thập chứng cứ xác định đây là số tiền thuộc sở hữu của của người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là chị Lê Thị Trang (vợ bị cáo Toàn) dùng để chi tiêu sinh hoạt gia đình, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại chị Lê Thị Trang.

- Đối với số tiền 42.690.000 đồng thu giữ tại gia đình bị cáo Hùng, qua xác minh và thu thập chứng cứ xác định trong đó có 16.500.000 đồng là tiền thu lời bất chính từ việc đánh bạc của bị cáo Hùng cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước, còn lại 26.190.000 đồng là số tiền thuộc sở hữu của của người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Đỗ Thị Lĩnh (mẹ đẻ bị cáo Hùng), đây là số tiền của bà Lĩnh dùng để chi tiêu, sinh hoạt hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bà Đỗ Thị Lĩnh.

- Đối với số tiền 27.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Vũ Văn Bằng, quá trình điều tra xác định của chị Cao Lệ Hà (vợ bị cáo Bằng), chị Hà chuyển cho Bằng để đi mua hàng, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chị Hà.

Về tình tiết khác trong vụ án:

Đối hành vi của các đối tượng Phạm Văn Thưởng, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Văn Đói, Nguyễn Thị Thu, Cao Minh Hoàng, Phạm Văn Hoàn, Đặng Xuân Quéo, Lê Văn Hèo, Lê Thị Hái, Trần Văn Năm, Vũ Văn Diu mua số lô, số đề của Nguyễn Văn Đảng, Phạm Thị Lương nhưng số tiền đều dưới 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, những người này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển tài liệu có liên quan đến Công an tỉnh Quảng Ninh để xử phạt hành chính theo quy định.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo Nguyễn Văn Đảng là người cáo tuôi và bị cáo Phạm Thị Lương là người cao tuổi có chồng là liệt sỹ và có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Đảng, Phạm Thị Lương

Vũ Văn Hùng, Nguyễn Văn Vốn , Vũ Văn Bằng, Vũ Văn Trung phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s,r khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn Toàn bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/8/2026.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm o,p,s,t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo từ Nguyễn Văn Đảng 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/8/2026.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm v,x,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Lương 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/8/2026.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm t,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn Hùng từ 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên ánsơ thẩm 06/8/2026.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Vốn từ 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên ánsơ thẩm 06/8/2026.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn Bằng từ 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên ánsơ thẩm 06/8/2026.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm t,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn Trung từ 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên ánsơ thẩm 06/8/2026.

Giao các bị cáo Vũ Văn Toàn, Nguyễn Văn Đảng, Phạm Thị Lương, Nguyễn Văn Vốn, Vũ Văn Bằng cho Ủy ban nhân dân phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao các bị cáo Vũ Văn Hùng và Vũ Văn Trung cho Ủy ban nhân dân phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Liên Hòa và Ủy ban nhân dân phường Quảng Yên trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 và và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo Vũ Văn Toàn là 84.691.500đ (tám mươi bốn triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn năm trăm đồng).

+ Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Văn Vốn là 106.860.000đ (một trăm kinh sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng).

+ Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo Phạm Thị Lương là 1.537.500đ (một triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

+ Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Văn Đảng là 1.537.500đ (một triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

+ Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo Vũ Văn Hùng là 51.435.000đ (năm mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

+ Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo Vũ Văn Trung là 8.000.000đ (tám triệu đồng).

- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 53.294.000đ (năm mươi ba triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng) và 16.224.000đ (mười sáu triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Đảng và Lương do bán số lô, số đề cho người khác.

- Tịch thu tiêu hủy 03 bút bi màu xanh, 01 túi xách bằng da màu nâu, 02 sim điện thoại 0382.398.128, 0904.517.688, 01 máy tính nhãn hiệu Casio thu giữ của Phạm Thị Lương.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 04 chiếc điện thoại di động bao gồm: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu đen thu giữ của Nguyễn Văn Đảng; 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S21 Ultra 5G màu bạc thu của giữ của Vũ Văn Hùng; 01 điện thoại Oppo màu đen thu giữ của Nguyễn Văn Vốn; 01 điện thoại Samsung Galaxy S24 Ultra thu giữ của Vũ Văn Trung.

- Trả lại người có quyền và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Tâm số tiền 378.550.000đ (ba trăm bảy mươi tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng), trả lại người có quyền và nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị Trang số tiền 33.700.000đ (ba mươi ba triệu bảy trăm nghìn đồng), trả lại người có quyền và nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị Lĩnh số tiền 26.190.000đ (hai mươi sáu triệu một trăm chín mươi nghìn đồng), trả lại chị Cao Lệ Hà số tiền 27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng).

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ và biên bản giao nhận tài sản ngày 03/6/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh và Phòng giao dịch số 14 Kho bạc Nhà nước Khu vực 3-Quảng Ninh)

3.Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc mỗi bị cáo Vũ Văn Tòan, Vũ Văn Bằng, Vũ Văn Hùng, Nguyễn Văn Vốn, Vũ Văn Trung phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo Nguyễn Văn Đảng và Phạm Thị Lương được miễn nộp án phí hình sự.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết bản án./.

Cỡ chữ