vanban.org

Bản án 169/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang , tỉnh An Giang Tuyên án 15/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ pháp luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Xử phạt Nguyễn Nhật C: 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/01/2026. 3/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NNC - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ pháp luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 169/2026/HS-ST
Ngày: 15/8/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Thoa

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hồng Tươi 2. Ông Đỗ Văn Tuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 272/2026/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2026/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Nhật C, sinh ngày 12/12/1990

Giới tính: Nam

Nơi sinh: Hòa Bình, tỉnh Cà Mau.

Nơi ĐKTT: Ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở hiện tại: Phòng số 7 Nhà trọ C1 thuộc Tổ H, Khu phố G D, đặc khu P, tỉnh An Giang.

Căn cước công dân: 095090013148 cấp ngày 16/02/2024.

Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 10/12;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Con ông: Nguyễn Văn R, sinh năm 1965 (còn sống)

Con bà: Thạch Thị Kim L, sinh năm 1965 (còn sống)

Anh ruột: 01 người, sinh năm 1986

Vợ: Châu Thị N, sinh năm 1994 (không đăng ký kết hôn)

Con ruột: 01 người, sinh năm 2018

Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 24/12/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 08 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 42/2018/HSST, bị cáo chấp hành xong vào ngày 02/02/2024, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không;

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2026

Bị cáo bị tạm giam và có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 25/12/2025, do cần sử dụng ma túy nên Nguyễn Nhật C đi đến bến xe Q cũ (nay là phường C), Thành phố Hồ Chí Minh gặp người thanh niên tên T (chưa rõ nhân thân) mua 01 bịch ma túy với giá 1.500.000 đồng. Khi mua được ma túy C cất giấu bịch ma túy vào ba lô của C mang theo. Đến ngày 31/12/2025, C đem bịch ma túy về phòng trọ C thuê ở tại khu phố G D, đặc khu P, tỉnh An Giang lấy ra một ít sử dụng, phần ma túy còn lại C cất giấu trên kệ đầu giường ngủ trong phòng trọ để sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 50 phút ngày 26/01/2026, Công an đặc khu P kiểm tra phòng trọ phát hiện bắt quả tang. Đến ngày 05/02/2026, Nguyễn Nhật C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A khởi tố, tạm giam để điều tra.

Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

- 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu trắng, có kích thước khoảng 04 cm x 6,4 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng không đồng nhất, đã được niêm phong.

- 01 (một) hộp nhựa màu trắng, không có nắp đậy, đã qua sử dụng.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu S loại Galaxy A06, số IMEI 1: 350588936739226, số IMEI 2: 352909596739223, đã qua sử dụng, bị bể màn hình trước.

- 01 (một) chai thủy tinh có hình hồ lô, bên trên nắp bình có gắn 01 (một) ống thủy tinh và 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số: 369/KL-KTHS ngày 04/02/2026 của Phòng K Công an tỉnh A kết luận như sau: Mẫu vật M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,0299 gam.

Tại bản cáo trạng số: 110/CT-VKSAGG-KV ngày 22 tháng 07 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang truy tố bị cáo Nguyễn Nhật C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Nhật C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt Nguyễn Nhật C từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,9798 gam được niêm phong trong phong bì màu trắng có ký hiệu vụ số 331.

- Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp nhựa màu trắng, không có nắp đậy, đã qua sử dụng.

- Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy 01 (một) chai thủy tinh có hình hồ lô, bên trên nắp bình có gắn 01 (một) ống thủy tinh và 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, đã qua sử dụng.

- Đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu S loại Galaxy A06 (số IMEI 1: 350588936739226, số IMEI 2: 352909596739223), đã qua sử dụng, bị bể màn hình trước, đây không phải là công cụ phạm tội.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1]. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang, Kiểm sát viên đều đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì, nên các hành vi, quyết định tố tụng nêu trên là hợp pháp. [2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Nhật C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố. Lời khai này phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, kết luận giám định (ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,0299 gam) và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cá nhân, Nguyễn Nhật C đã mua 01 bịch ma túy từ một người tên T (chưa rõ nhân thân) tại Thành phố Hồ Chí Minh, đem về phòng trọ tại khu phố G D, đặc khu P sử dụng một phần, số còn lại (1,0299 gam Methamphetamine) cất giấu để tiếp tục sử dụng. Đến 23 giờ 50 phút ngày 26/01/2026, Công an đặc khu P kiểm tra phòng trọ, phát hiện và thu giữ số ma túy nói trên. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, với khung hình phạt từ 03 năm đến 05 năm tù.

. Về tính chất, mức độ hành vi: Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, ảnh hưởng đến đạo đức, sức khỏe, tính mạng và là nguồn gốc của nhiều tệ nạn xã hội, cũng như biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Đáng chú ý, bị cáo từng bị xử phạt 08 năm 03 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" (chấp hành xong ngày 02/02/2024), chưa được xoá án tích nhưng không lấy đó làm bài học, mà tiếp tục phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, cần áp dụng Điều 38 BLHS cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, đồng thời phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. [4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này là tái phạm, áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. [5]. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định (0,9798 gam, niêm phong trong phong bì màu trắng, ký hiệu vụ số 331).

- Tịch thu, tiêu hủy 01 hộp nhựa màu trắng, không nắp đậy, đã qua sử dụng.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 chai thủy tinh hình hồ lô, có gắn ống thủy tinh và ống hút nhựa màu trắng, đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Samsung Galaxy A06 (IMEI 1: 350588936739226, IMEI 2: 352909596739223), bị bể màn hình trước, đây không phải là công cụ phạm tội. [6]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang về tội danh, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và biện pháp tư pháp là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận. [7]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ pháp luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025. 2/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt Nguyễn Nhật C: 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/01/2026.

3/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định (0,9798 gam, niêm phong trong phong bì màu trắng, ký hiệu vụ số 331).

- Tịch thu, tiêu hủy 01 hộp nhựa màu trắng, không nắp đậy, đã qua sử dụng.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 chai thủy tinh hình hồ lô, có gắn ống thủy tinh và ống hút nhựa màu trắng, đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Samsung Galaxy A06 (IMEI 1: 350588936739226, IMEI 2: 352909596739223), bị bể màn hình trước.

(Các tang vật, vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại kho vật chứng tại Phân trại tạm giam P thuộc Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh A (theo phiếu nhập kho vật chứng số 186/PNK ngày 02/7/2026).

4/ Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ