vanban.org

Bản án 169/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Thúy được ly hôn anh Vũ Văn Tiến (Vũ Quang Tiến)

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Trịnh Thị Thúy chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T1-T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Thúy được ly hôn anh Vũ Văn Tiến (Vũ Quang Tiến)
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2026/HNGĐ-ST
Ngày 16/6/2026
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn La

2. Bà Ngô Thị Mai.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Bắc Ninh.

Đại viện viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trọng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Bắc Ninh.

Ngày 16/06/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 269/2026/TLST-HNGĐ ngày 13/04/2026 về việc tranh chấp Hôn nhân và Gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/05/2026 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Thúy, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn Dùm, xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: Anh Vũ Văn Tiến (Vũ Quang Tiến), sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn Dùm, xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Trịnh Thị Thúy trình bày như sau:

Ngày 07/10/2002 chị và anh Vũ Quang Tiến kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn anh chị có cuộc sống hòa thuận trong một thời gian đến năm 2019 xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hai vợ chồng cãi vã, không có tiếng nói chung khiến tình cảm hai vợ chồng không còn như trước. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Vũ Quang Tiến không lo làm ăn, hay uống rượu say chửi bới lung tung và xúc phạm chị, mọi công việc trong gia đình chỉ có mình chị gánh vác, không được chia sẻ. Vợ chồng không còn thương yêu tin tưởng nhau nữa. Mặc dù gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải nhưng vợ chồng không thể đoàn tụ.

Nay chị xác định vợ chồng không còn chung sống với nhau được nữa, mỗi người có một cuộc sống riêng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án xem xét giải quyết ly hôn với anh Vũ Quang Tiến.

Về con chung: Chị và anh Vũ Quang Tiến trong thời gian chung sống có 02 con chung là cháu Vũ Phương Hoa, sinh ngày 16/06/2004 và cháu Vũ Trịnh Khánh, sinh ngày 19/06/2006. Các cháu hiện đã trưởng thành và lập gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị xác định vợ chồng không có vướng mắc nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai của đương sự, anh Vũ Quang Tiến trình bày như sau: Anh và chị Trịnh Thị Thúy đã kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn cả hai về sống chung tại thôn Dùm, xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh. Trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhỏ. Hiện tại vợ chồng đã ly thân với nhau mỗi người một phòng (mặc dù sống cùng một nhà). Nay chị Trịnh Thị Thúy làm đơn ly hôn với anh, anh xác định vẫn còn tình cảm với chị Trịnh Thị Thúy và đề nghị Tòa án hòa giải cho hai vợ chồng, anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị Trịnh Thị Thúy có hai con chung là cháu Vũ Phương Hoa, sinh ngày 16/06/2004 và cháu Vũ Trịnh Khánh, sinh ngày 19/06/2006. Các cháu hiện đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết

* Tại biên bản xác minh với địa phương, Tòa án được cung cấp như sau:

Anh Vũ Quang Tiến và Chị Trịnh Thị Thúy là vợ chồng, cả hai có đăng ký kết hôn và về sống chung tại thôn Dùm, xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay cả hai vợ chồng vẫn sống tại thôn Dùm, xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh. Anh Vũ Quang Tiến và chị Trịnh Thị Thúy có với nhau hai con chung là cháu Vũ Phương Hoa, sinh ngày 16/06/2004 và cháu Vũ Trịnh Khánh, sinh ngày 19/06/2006. Các cháu hiện đã trưởng thành và có gia đình riêng. Thời gian gần đây giữa chị Thúy và anh Tiến có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể thì ông không rõ. Ông xác nhận anh Vũ Văn Tiến sinh ngày 9/9/1979 tại giấy chứng nhận kết hôn và anh Vũ Quang Tiến sinh ngày 9/9/1979 theo căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx là cùng một người. Việc khác tên đệm tại giấy kết hôn có thể là do nhầm lẫn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Trịnh Thị Thúy và Vũ Quang Tiến đều có đơn xin vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Trịnh Thị Thúy có đơn xin xét xử vắng mặt giữ nguyên các yêu cầu, ý kiến khác của mình. Bị đơn anh Vũ Quang Tiến có đơn xin xét xử vắng mặt

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị Thúy được ly hôn anh Vũ Quang Tiến

- Về tài sản và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Trịnh Thị Thúy và anh Vũ Quang Tiến không đề nghị giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Đơn khởi kiện của chị Trịnh Thị Thúy cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp Hôn nhân và Gia đình. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Thúy và anh Vũ Quang Tiến đăng ký kết hôn ngày 07/10/2002 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh). Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Thúy và anh Tiến là hợp pháp.

Về tình trạng hôn nhân, HĐXX xét thấy: Lời khai của chị Thúy phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định vợ chồng anh chị có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không còn yêu thương nhau nữa. Hiện tại vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Như vậy HĐXX xác định chị Thúy và anh Tiến trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cùng nhau chia sẻ mọi việc bảo vệ hạnh phúc gia đình. Anh chị xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân đến nay không ai quan tâm qua lại, chăm sóc gì cho ai. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giải thích, phân tích cho chị Thúy tuy nhiên chị vẫn giữ nguyên yêu cầu và cương quyết xin ly hôn anh Tiến. HĐXX thấy, mâu thuẫn giữa anh chị đã căng thẳng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần giải quyết cho chị Thúy được ly hôn anh Tiến như vậy là phù hợp với Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị Trịnh Thị Thúy và anh Vũ Quang Tiến trong thời gian chung sống có 02 con chung là cháu Vũ Phương Hoa, sinh ngày 16/06/2004 và cháu Vũ Trịnh Khánh, sinh ngày 19/06/2006. Con chung đã trưởng thành và lập gia đình riêng nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Trịnh Thị Thúy phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Thúy được ly hôn anh Vũ Văn Tiến (Vũ Quang Tiến)

2. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trịnh Thị Thúy chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 35 ngày 14/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị Thúy đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ