- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị Thu H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TIỀN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:169/2024/HSST Ngày:19-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thành Trại
Ông Lê Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Huệ-Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Huy- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2024/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Thị Thu H, sinh ngày: 06/9/1988 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: 3, đường H, Phường C (nay là Phường B), Thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở hiện nay: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Số Căn cước công dân: 082188015179; nghề nghiệp: bán vé số; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn A, sinh năm: 1955, nghề nghiệp: thợ mộc và bà Lâm Thị N, sinh năm: 1966, nghề nghiệp: nội trợ; Bị cáo có 03 con (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2022); tiền sự: không; tiền án: 01, ngày 14/12/2021 bị Toà án nhân dân Thành phố Mỹ Tho xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Bản án số 117/2021/HSST) chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/3/2023, chưa xoá án tích; bị bắt tạm giữ ngày 12/8/2024, bị tạm tam ngày 21/8/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Anh Nguyễn Ngọc Ẩ, sinh năm 1989 (vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2/ Anh Nguyễn Minh L, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 03 giờ ngày 12/8/2024, H một mình điều khiển xe môtô biển số 55P5–4726 từ khu vực Phường C (nay là Phường B), Thành phố M đến khu vực cầu B chơi, trên đường đi do xe hết xăng nên H ghé vào cây xăng nằm trên Quốc lộ A đoạn giao với Quốc lộ E để đổ xăng. Tại đây, H gặp 01 người tên P (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) thì P hỏi H còn sử dụng ma túy không, H trả lời còn nên P đưa cho H 01 gói ma túy để H sử dụng, khi nhận ma túy từ P, H bỏ vào ví và để vào túi áo khoác bên phải H đang mặc trên người. Sau đó, H tiếp tục gặp Nguyễn Minh L, L rủ H đi chơi cùng với L thì H đồng ý. Sau đó, Hồng điều K xe môtô chạy theo L và đến nhà của anh Nguyễn Ngọc Ẩ, tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Sau khi Ẩ, L và H ngồi nói chuyện một lúc thì H nằm võng ở sân trước nhà anh Ẩ ngủ.
Vào lúc 10 giờ 00 phút cùng ngày, lực lượng Công an huyện C kết hợp cùng Công an xã L tiến hành kiểm tra, phát hiện bên trong chiếc ví để ở vị trí túi áo khoác bên trái trên người H đang mặc có 01 gói nylon (loại túi zip) bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi vấn là ma túy nên tiếp hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ngô Thị Thu H.
Vật chứng, đồ vật được tạm giữ khi bắt quả tang gồm:
- 01 (một) túi nylon màu trắng, dạng túi zip được dán kín, có viền màu đỏ một đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi vấn là ma túy, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu số PS3-2137261, bên ngoài có chữ ký của Ngô Thị Thu H;
- 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu trắng;
- 01 (một) cái áo khoác màu đen;
- 01 (một) cái bóp bằng da màu nâu – đen.
Bản Kết luận giám định số 135/KL-KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh T kết luận:
- Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,6811 gam, loại Methamphetamine.
- H1 lại đối tượng giám định: Các mẫu tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 1,6269 gam; được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong ký hiệu số vụ số 135 ghi ngày 13 tháng 8 năm 2024.
Bản cáo trạng số 152/CT-VKSCT ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Ngô Thị Thu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ngô Thị Thu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” như Cáo trạng và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Thị Thu H 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Hình phạt bổ sung: Không.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ đối với: 01 (một) túi nylon màu trắng, dạng túi zip được dán kín, có viền màu đỏ một đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi vấn là ma tuý, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu số PS3-2137261, bên ngoài có chữ ký của Ngô Thị Thu H;
+ 01 ( một) cái kéo bằng kim loại màu trắng;
+ 01 (một) cái áo khoác màu đen;
+ 01 (một) cái bóp bằng da màu nâu- đen.
Bị cáo tự bào chữa: Thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát huyện C, truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thể hiện.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy mình có lỗi, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo hứa sẽ không tái phạm và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Cơ quan điều tra công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến việc xét xử và vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
2 Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo Ngô Thị Thu H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thể hiện: Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 12/8/2024, tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Ngô Thị Thu H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 1,6811 gam với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản Kết luận giám định số 135/KL-KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh T, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ngô Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3 Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma tuý là chất gây nghiện, người sử dụng ma tuý rất khó từ bỏ, nếu sử dụng lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ và tinh thần của người nghiện và ảnh hưởng xấu đến tình hình an toàn xã hội ở địa phương.
Xét về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bị cáo đang bị điều tra truy tố về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý vào ngày 28/3/2024 thì đến ngày 12/8/2024 lại tiếp tục phạm tội, điều này thể hiện bị cáo rất xem thường pháp luật, nghĩ nên áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu: 01 tiền án theo Bản án số 117/2021/HSST. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, về tình tiết tăng nặng: ngày 14/12/2021 bị Toà án nhân dân Thành phố Mỹ Tho xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Bản án số 117/2021/HSST) chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/3/2023, chưa xoá án tích nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử có cân nhắc khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự để phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
5 Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ: + 01 (một) gói niêm phong vụ số 135 ngày 13 tháng 8 năm 2024, có chữ in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên-Bên giao), Nguyễn Quốc P ( Trợ lý giám định viên); chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Ngọc Đ (bên nhận); hình dấu tròn màu đỏ in chữ có nội dung: CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG-PHÒNG K1. Bên trong có: 01 (một) gói nylon trong suốt được dán kín chứa 1,6269 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) gói nylon màu trắng, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip).
+ 01 ( một) cái kéo bằng kim loại màu trắng;
+ 01 (một) cái bóp bằng da màu nâu- đen
Đối với 01 (một) cái áo khoác màu đen của bị cáo, bị cáo không có yêu cầu nhận lại, đồ đã cũ, giá trị không đáng kể, nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với Ngô Thị Thu H khai số ma túy của H tàng trữ do một người tên P cho H để sử dụng. Do không biết rõ họ, địa chỉ cụ thể của P nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không có cơ sở xác minh, làm việc được.
Nguyễn Minh L có rủ Ngô Thị Thu H đến nhà của Nguyễn Ngọc Ẩ để chơi, tuy nhiên L và Ẩ khai việc H cất giấu ma túy bên trong người L và Ẩ hoàn toàn không biết, do đó không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự là đúng quy định pháp luật.
6 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 32; Điều 38; khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Thị Thu H 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2024/HSST ngày 19/8/2024 của Toà án nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Buộc bị cáo chấp hành chung hai bản án là 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ 12/8/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ đối với:
+ 01 (một) gói niêm phong vụ số 135 ngày 13 tháng 8 năm 2024, có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên-Bên giao), Nguyễn Quốc P ( Trợ lý giám định viên); chữ ký ghi họ tên Nguyễn Ngọc Đ (Bên nhận); hình dấu tròn màu đỏ in chữ có nội dung: CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG-PHÒNG K1.
+ 01 ( một) cái kéo bằng kim loại màu trắng;
+ 01 (một) cái bóp bằng da màu nâu- đen.
+ 01 (một) cái áo khoác màu đen.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Chi Cục Thi hành dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang).
3. Về án phí:
Căn cứ: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Ngô Thị Thu H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Cơ quan điều tra huyện Châu Thành, tỉnh TG; - Trại tạm giam công an tỉnh TG; - Cục thi hành án dân sự tỉnh TG; - Chi cục Thi hành án dân sự h.C; - Cơ quan Thi hành án hình sự h.C; - Sở tư pháp tỉnh TG (khi án có HLPL); - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Hồng Quyên |