vanban.org

Bản án 169/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 06/09/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị Cáo Cà Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 502/MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại là 0,21 gam Heroine và vỏ bao bì sau giám định; 01 chiếc quần dài màu nâu (đã qua sử dụng) thu giữ của Cà Văn P (Vậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị Cáo Cà Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2024/HS-ST
Ngày 06-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐHẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Doãn Văn Sáng

Ông Phạm Văn Sóng

-Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Hà - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên Thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 N 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 144/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 N 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 N 2024 đối với bị cáo:

Cà Văn P, sinh N 19xx, tại tỉnh M; Quê quán: xã C, huyện T, tỉnh M; nơi thường trú: Không có; nơi ở hiện tại: Thôn S, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn F và bà Nguyễn Thị Q; có vợ là Quàng Thị H, sinh N 19xx (đã ly hôn); có 01 con sinh N 2006; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 55/2012/HSST ngày 17/4/2012 của Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh M xử phạt 02 N tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, phạt tiền P số tiền 1.460.000 đồng. P chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/9/2013, đã nộp số tiền 1.460.000 đồng và tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 22/5/2012 (đã xóa án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 23/4/2024 đến ngày 25/4/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 22/4/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Thủy Nguyên kết hợp với Đội 1 – Phòng PC04 Công an thành phố Hải Phòng và Công an xã A làm nhiệm vụ khám xét khẩn cấp đối với Lò Văn R, sinh N 2000 ở bản N, xã M, huyện E, tỉnh M về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của N tại khu vực thôn U xã A, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng thì Cà Văn P (ở cùng khu phòng trọ với N) có mặt tại thời điểm khám xét đã tự nguyện đi vào trong phòng ngủ lấy một chiếc quần dài màu nâu (đã qua sử dụng) của P, sau đó tự móc từ trong túi quần phía trước bên phải ra 03 gói giấy màu trắng loại giấy vở học sinh, bên trong đều chứa chất bột màu trắng (nghi chất ma túy) giao nộp cho Cơ quan điều tra và khai nhận đây là ma túy do P mua trước đó về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đưa P cùng vật chứng về trụ sở Công an làm việc. Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Cà Văn P không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Tại bản Kết luận giám định số 502/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Cà Văn P là ma túy, có khối lượng 0,27 gam là ma túy, loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Cà Văn P khai nhận: P đang làm lao động thời vụ trong công trường xây dựng đảo Vũ Yên, Hải Phòng. Do bản thân nghiện ma tuý nên khoảng 11 giờ 00 phút ngày 22/4/2024, sau khi xây dựng xong P đi ra khu vực nhà vệ sinh (thuộc lán nghỉ đảo Vũ Yên) để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, P gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 04 gói ma túy heroine với giá 100.000đồng/01 gói hết 400.000đồng. Sau khi mua được ma túy, P lấy một gói ra sử dụng hết ngay tại nhà vệ sinh, 03 gói ma túy còn lại P mang về phòng trọ tại thôn U, xã A cất giấu trong túi quần dài phía trước bên phải, rồi để quần trong túi xách đựng quần áo của P. Tại nơi P ở còn có vợ chồng Lò Văn R, Cao Thị L và một số người khác cũng trọ tại đây, P ở phòng bên trong còn vợ chồng N, L ở phòng bên ngoài. Buổi tối cùng ngày, khi P đang ở phòng trọ thì Cơ quan Công an đến bắt quả tang N cùng hai người khác có hành vi mua bán trái phép chất ma túy và thi hành lệnh khám xét đối với N, P lo sợ việc cất giấu trái phép ma túy của mình bị phát hiện nên đã đi vào trong phòng lấy ra chiếc quần dài màu nâu để trong túi xách đựng quần áo, rồi lấy từ trong túi quần phía trước bên phải ra 03 gói ma túy giao nộp cho Cơ quan Công an. Số ma túy trên P khai nhận chỉ để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác, việc Lò Văn R, Cao Thị L bán ma túy P không biết, không tham gia và không mua ma túy của N, L lần nào.

Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn R và Cao Thị L khai phù hợp với nội dung nêu trên. Việc N, L bán trái phép chất ma túy, P không biết, không tham gia và không bán ma túy cho P lần nào. Hiện N, L đã bị khởi tố bị can về tội Mua bán trái phép chất ma túy trong một vụ án khác.

Vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 502/MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại là 0,21 gam Heroine và vỏ bao bì sau giám định; 01 chiếc quần dài màu nâu của Cà Văn P chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên quản lý.

Tại Cáo trạng số 163/CT-VKS ngày 07 tháng 8 N 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Cà Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Cà Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Kiểm sát viên sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Cà Văn P từ (18) tháng đến (24) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/4/2024. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hành vi, quyết định tố tụng của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang phù hợp với Kết luận giám định số 502/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Ngày 22/4/2024, Cà Văn P có hành vi cất giấu trái phép 0,24 gam ma túy Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang tại khu vực thôn U xã A, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cá nhân không được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền mà tự ý mua bán, giữ và cất giấu ma túy là trái pháp luật. Nhưng vì bị cáo thường xuyên sử dụng ma túy nên bị cáo vẫn mua và cất giữ ma túy sử dụng cho bản thân. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, kết luận: Bị cáo Cà Văn P phạm tội phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng tình tiết người phạm tội tự thú và thành khẩn khai báo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về lượng hình: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án và chấp hành hình phạt về tội phạm ma tuý nhưng bị cáo không rút ra bài học nghiêm khắc cho bản thân nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối vơi 01 phong bì niêm phong số 502/MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại là 0,21 gam Heroine và vỏ bao bì sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 chiếc quần dài màu nâu (đã qua sử dụng) thu giữ của Cà Văn P, qua xét hỏi tại phiên toà P không yêu cầu trả lại. Xét thấy vật chứng nêu trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí Tòa án thì bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị Cáo Cà Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Cà Văn P 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/4/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 502/MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại là 0,21 gam Heroine và vỏ bao bì sau giám định; 01 chiếc quần dài màu nâu (đã qua sử dụng) thu giữ của Cà Văn P (Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31 tháng 7 N 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí Tòa án: Tuyên: Bị cáo Cà Văn P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ