- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn V - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM Bản án số:169/2024/HS-ST |
Ngày 12 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chương và ông Phạm Quang Man.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Liên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trương Hoàng Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 159/2024/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn V, sinh năm 1986; tại tỉnh Hà Nam; Trú tại: Thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Đỗ Thị L; Vợ: Trần Thị T, sinh năm 1987, con (chưa có); tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
Ngày 28/4/2014, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 31/10/2015.
Ngày 08/5/2020, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 24/05/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/8/2024 đến ngày 07/9/2024 chuyển tạm giam đến nay; Có mặt.
* Người làm chứng: ông Phạm Văn H, sinh năm 1965; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 29/8/2024, Viđi đến Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Nam thuộc tổ dân phố M, phường L, thành phố P để uống thuốc Methadone, sau đó đi bộ ra khu vực cổng thì gặp 01 người đàn ông khoảng 35 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch), trong lúc nói chuyện người đàn ông rủ góp tiền để mua ma túy sử dụng thì V đồng ý và lấy 200.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người đàn ông cầm tiền V đưa cho rồi dùng xe mô tô loại Dream (không rõ biển kiểm soát) chở V đi đến khu vực đường cánh đồng thuộc xóm 1, xã L, thành phố P thì dừng xe lại bảo V xuống xe đợi, còn người đàn ông bỏ đi. Khoảng 15 phút sau, người đàn ông quay lại đưa cho V 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, V biết bên trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long có ma túy nên cầm cất vào túi quần bên phải đang mặc, người đàn ông điều khiển xe mô tô bỏ đi, V bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Thu giữ vật chứng gồm: 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01 và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Tại bản kết luận giám định số 672/KL-KTHS ngày 04/09/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “- Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,182 g (Không phẩy một trăm tám mươi hai gam) loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số 164/CT-VKS-PL ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Phạm Văn V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Phạm Văn V và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Phạm Văn V từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo được trả lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa về hành vi phạm tội, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn phạt tiền bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt và công bố lời khai là đúng quy định pháp luật.
[3] Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ buộc tội để kết luận:
Khoảng 11 giờ ngày 29/8/2024, tại xóm 1, xã L, thành phố P, Phạm Văn V đang cất giữ trái phép khối lượng 0,182 gam ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an xã Đ, thành phố P phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo Phạm Văn V là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng 02 lần bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xoá án tích) nhưng không tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội về ma tuý nên Hội đồng xét xử cũng cân nhắc tình tiết này khi lượng hình.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo có thời gian tham gia, hoàn thành nghĩa vụ quân sự từ năm 2006-2007, đã xuất ngũ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự an toàn trong xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm và hành vi vi phạm pháp luật khác, gây bất bình sâu sắc trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo chính bị cáo và phòng ngừa chung trong cộng đồng.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vấn đề khác của vụ án:
Nguồn gốc số ma túy đã thu giữ của Phạm Văn V: V khai đã đưa 200.000 đồng cho một người đàn ông khoảng 35 tuổi không biết nhân thân, lai lịch để đi mua ma túy. Sau đó người đàn ông đưa cho V 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma túy. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người này. Ngoài lời khai của V không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
[7] Về vật chứng và tài sản đã thu giữ:
Đối với số ma túy loại Heroine được niêm phong trong phong bì số 672/KTHS là vật cấm tàng trữ, lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy cùng toàn bộ bao gói hoàn trả sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng không còn giá trị sử dụng.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 33(ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 29/8/2024.
3. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy loại: Heroine trong 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi:“Mẫu vật hoàn trả QT01” số 672/KL-KTHS và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 15/10/2024.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Văn V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - CQCSĐT CA thành phố Phủ Lý; - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Nam; - Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền; - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Mai Oanh |