- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quang T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý ”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2024/HS-ST Ngày: 24/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc San Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Lệ Thu;
2. Ông Nguyễn Như Thuỷ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Loan - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuynh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23 và 24 tháng 12 năm 2024, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 204/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Quang T1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 13 tháng 9 năm 1993 tại Cao Bằng; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Tổ G, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; là con của ông Phạm Quang D (đã chết) và bà Phùng Thị T, sinh năm: 1959; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Những người tham gia tố tụng:
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Phương H (địa chỉ: số A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 19/9/2023 tại trước Block S, chung cư Q, số D, đường Đ, phường P, Quận G. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy, Công an Q phát hiện Phạm Quang T1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại móc baga phía bên trái xe máy biển số 59D3-299.49, do T1 điều khiển có 01 hộp giấy carton màu vàng bên trong có một gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 (một) gói nylon chứa 05 viên nén màu vàng. Nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục 33 – 34).
Kết luận giám định số 10365/KL – KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu trong 01(một) gói nylon (Ký hiệu mẫu m1) cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,7376 (một phẩy bảy ba bảy sáu gam) loại Ketamine; 05 (năm) viên nén màu vàng trong 01(một) gói nylon (Ký hiệu mẫu m2) cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9983g (một phẩy chín chín tám ba gam) loại MDMA, Ketamine (Bút lục 27).
Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Phạm Quang T1 khai nhận khoảng một tháng trước T1 quen biết một người tên C (không rõ lai lịch). Coca biết T1 chạy xe ôm công nghệ nên liên hệ T1 để giao ma túy cho C. Ngày 19/9/2023, C sử dụng số điện thoại số 0915310131 gọi nhờ T1 qua chung cư A, đường H, Phường A, Quận F, nhận ma túy đi giao cho khách tại chung cư Q, số D, đường Đ, phường P, Quận G, T1 đồng ý. Coca để ma túy trong hộp giấy đưa T1 đi giao cho khách, đồng thời C đưa số điện thoại 0379853480 của người nhận để T1 liên hệ giao. T1 nhận ma túy treo tại móc baga phía bên trái xe máy biển số 59D3-299.49, để đi giao. Sau khi liên lạc với người nhận và chờ giao ma túy cho khách thì bị công an phát hiện bắt giữ. T1 khai trước đó T1 giao ma túy cho C 02 (hai) lần, T1 không nhớ rõ ngày, tháng và địa điểm, mỗi lần đi giao ma túy Coca trả công cho T1 từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng; khi T1 đi giao đơn hàng cho C, T1 biết đó là ma túy (Bút lục 35 – 43). Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, kết quả T1 âm tính với chất ma tuý trong cơ thể, (Bút lục 71).
Vật chứng thu giữ:
+ 01 gói niêm phong bên trong có 01(một) gói ny lon chứa tinh thể không màu (m1) 01(một) gói ny lon chứa 05 (năm) viên nén màu vàng, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Quang T1 và hình dấu công an phường P, Quận G (Bút lục 33).
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 10 Lite, số thuê bao: 0911344944; số máy: N770FIDS; số sêri: RF8N12DYTDE; Imei (khe 1): 355045111188146; Imei (khe 2): 355046111188144 (Bút lục 50).
+ 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda số loại Air Blade, biển số 59D3-299.49, số máy JK 14E0117488; số khung RLHJK1408NZ02067608 (Bút lục 50). Qua xác minh xe do bà Nguyễn Thị Phương H (địa chỉ: số A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu (Bút lục 92).
Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Phạm Quang T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Phạm Quang T1 từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa xét có đủ cơ sở để kết luận:
Vào lúc 15 giờ 00 phút, ngày 19/9/2023, tại trước Block S, chung cư Q, số D, đường Đ, phường P, Quận G, Phạm Quang T1 có hành vi tàng trữ trái phép 1,7376 (một phẩy bảy ba bảy sáu gam) loại Ketamine và 1,9983g (một phẩy chín chín tám ba gam) loại MDMA, Ketamine, để đi giao cho khách giúp đối tượng “Coca” mua bán trái phép chất ma tuý, bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị can Phạm Quang T1 đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, phải được xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Về vật chứng:
- 01 gói niêm phong bên trong có 01(một) gói ny lon chứa tinh thể không màu (m1) 01(một) gói ny lon chứa 05 (năm) viên nén màu vàng, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Quang T1 và hình dấu công an phường P, Quận G. Là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 10 Lite, số thuê bao: 0911344944; số máy: N770FIDS; số sêri: RF8N12DYTDE; Imei (khe 1): 355045111188146; Imei (khe B): 355046111188144. Đây là điện thoại của Thịnh dung để liên lạc giao, nhận ma tuý nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
+ 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda số loại Air Blade, biển số 59D3-299.49, số máy JK 14E0117488; số khung RLHJK1408NZ02067608. Qua xác minh xe do bà Nguyễn Thị Phương H đứng tên chủ sở hữu. Tại phiên toà, bà H xác nhận đây là xe của cá nhân bà, bà không biết việc T1 mượn xe đi giao ma tuý, bà có yêu cầu nhận lại xe. Do vậy, giao trả chiếc xe lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Phương H.
Đối với người có tên “Coca” đưa ma túy cho T1, và người nhận ma túy của T1 có số thuê bao 0379853480, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với lời khai của T1 đi giao ma túy cho C 02 (hai) lần trước đó, Toà án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ. Cơ quan cảnh sát điều tra xác định, ngoài lời khai của T1 không còn tài liệu, chứng cứ chứng minh có hay không có hành vi phạm tội. T1 cũng không nhớ rõ ngày, tháng và địa điểm giao. Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý T1 về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhiều lần là có cơ sở.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quang T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý ”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phạm Quang T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2023.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
- Tịch thu để tiêu huỷ: 01 gói niêm phong bên trong có 01(một) gói ny lon chứa tinh thể không màu (m1) 01(một) gói ny lon chứa 05 (năm) viên nén màu vàng, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Quang T1 và hình dấu công an phường P, Quận G.
- Tịch thu để sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 10 Lite, số thuê bao: 0911344944; số máy: N770FIDS; số sêri: RF8N12DYTDE; Imei (khe 1): 355045111188146; Imei (khe 2): 355046111188144;
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Phương H: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda số loại Air Blade, biển số 59D3-299.49, số máy JK 14E0117488; số khung RLHJK1408NZ02067608.
(Theo Biên bản V/v giao, nhận vật chứng tài sản số 104 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh)
4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng);
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - VKSND Tp.HCM - VKSND Quận 7; - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Quận 7; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu: VP, HS (TK Loan). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc San Hà |