vanban.org

Bản án 169/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Ngô Kim T và Nguyễn Văn S. Về nuôi con chung: Giao các cháu Nguyễn Huỳnh Minh Giàu (Nam), sinh ngày 25 tháng 8 năm 2016 và cháu Nguyễn Huỳnh Yến Như (Nữ), sinh ngày 23 tháng 7 năm 2020 cho Ngô Kim T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:169/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 9 - 2024
V/v “Ly hôn và Tranh chấp về
cấp dưỡng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH-TỈNH HẬU GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Tự;

2. Ông Nguyễn Văn Thuận.

-Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 439/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn và Tranh chấp về cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2024/QĐXXST-HN, ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngô Kim T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Tổ 21, ấp 3, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Nguyễn Văn S, sinh năm 1993.

Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện PH, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Ngô Kim T (Sau đây gọi chị T) trình bày:

Giữa chị và bị đơn Nguyễn Văn S (Sau đây gọi anh S) qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2015, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng chị có tình cảm với người phụ nữ khác. Từ đó vợ chồng hay cãi vã nhau, nhiều lần hòa giải hàn gắn tình cảm vẫn không đoàn tụ được, nên sống ly thân. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh S.

- Về con chung: Có hai người con chung tên Nguyễn Huỳnh Minh G (Nam), sinh ngày 25 tháng 8 năm 2016 và cháu Nguyễn Huỳnh Yến N (Nữ), sinh ngày 23 tháng 7 năm 2020. Từ khi ly thân đến nay thì con chung do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung, yêu cầu chồng chị cấp dưỡng theo quy định.

Về nợ và tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình tố tụng bị đơn Nguyễn Văn S vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại bản tự khai ngày 04 tháng 7 năm 2024 cháu Nguyễn Huỳnh Minh Giàu trình bày (Có sự chứng kiến của chị T): Khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn; giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng. Buộc bị đơn phải cấp dưỡng tiền nuôi hai người con chung. Về nợ và tài sản chung, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa các đương sự là Ly hôn và Tranh chấp về cấp dưỡng được qui định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.

Về thủ tục tố tụng: Ngô Kim T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyễn Văn S được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vắng mặt không lý do nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với đương sự này.

Xét về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh S qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 15 tháng 6 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện PH, tỉnh Hậu Giang nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T: Chị và anh S trong thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị T trình bày là anh S có tình cảm với một người phụ nữ khác, là đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống mà không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm mà đã chọn cách sống ly thân; xét thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm, lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án tạo điều kiện để hòa giải đoàn tụ nhưng anh S vắng mặt, chứng tỏ rằng anh cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Trong quá trình giải quyết, chị T xác định là không còn tình cảm vợ chồng với anh S và cương quyết xin ly hôn. Từ đó thấy rằng hôn nhân giữa hai người đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Về con chung: Có hai người con chung, xét cả hai người con chung đều do chị T nuôi dưỡng từ khi hai người ly thân đến nay. Chị T cũng có yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, yêu cầu này là phù hợp với nguyện vọng của cháu Giàu, nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của các cháu, cần tiếp tục giao cả hai cháu chị T được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị T, anh S có yêu cầu khác.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị T yêu cầu anh S cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình quy định“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Qua đó yêu cầu cấp dưỡng của chị T có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, về mức cấp dưỡng chỉ áp dụng bằng ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Như vậy chỉ có căn cứ buộc anh S có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi hai người con chung mỗi tháng 2.340.000 đồng (Tức mỗi cháu 1.170.000 đồng/01 tháng). Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh S mà không ai có quyền cản trở.

Về nợ và tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật. Bị đơn phải nộp án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Ngô Kim T và Nguyễn Văn S.

2. Về nuôi con chung: Giao các cháu Nguyễn Huỳnh Minh Giàu (Nam), sinh ngày 25 tháng 8 năm 2016 và cháu Nguyễn Huỳnh Yến Như (Nữ), sinh ngày 23 tháng 7 năm 2020 cho Ngô Kim T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị T, anh S có yêu cầu khác.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Buộc anh Nguyễn Văn S có nghĩa vụ cấp dưỡng cho chị Ngô Kim T tiền nuôi hai người con chung mỗi tháng là 2.340.000đ (Hai triệu ba trăm bốn mươi ngàn đồng). Tức là mỗi cháu 1.170.000đ (Một triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng)/01 tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 18 tháng 9 năm 2024) cho đến khi các cháu Nguyễn Huỳnh Minh Giàu và cháu Nguyễn Huỳnh Yến Như lần lượt đủ 18 tuổi.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Nguyễn Văn S mà không ai có quyền cản trở.

4. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ngô Kim T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006942, ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PH, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không phải nộp thêm.

6. Về án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Nguyễn Văn S phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ