- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sộng Thị Sua - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự tuyên bố
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2023/HS - ST Ngày 17 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Kim Xuân.
2. Ông Quàng Văn Tiện.
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Những người tham gia tố tụng khác gồm cán bộ, chiến sỹ thuộc nhà Tạm giữ Công an huyện Sông Mã: Ông Nguyễn Trọng Tình, Lò Văn Đăng, Lường Bình Minh.
Ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã và điểm cầu thành phần thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 178/2023/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2023/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Sộng Thị S - Sinh năm 1974; Nơi cư trú: Bản T, xã H, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Sộng Bả S1 (đã chết) và bà Giàng Thị N; Bị cáo có chồng là Giàng Bả D (đã chết), bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 26/3/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người phiên dịch: Ông Vàng A N. Địa chỉ: Bản Q, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 30 phút, ngày 26/3/2023 tổ công tác Công an xã H, huyện S làm nhiệm vụ tại khu vực bản T, xã H, huyện S đã phát hiện Sộng Thị S đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà. Thu giữ từ túi vải màu đen S đang đeo trên người 01 túi nilon màu xanh chứa 87 viên nén màu hồng và 01 gói nilon màu xanh chứa chất bột liên kết màu trắng (S khai nhận là Hồng phiến và Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Ngày 27/3/2023 tại cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả:
- 87 viên nén màu hồng có khối lượng là 8,38 gam đã trích 02 viên có khối lượng là 0,19 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu S1, vật chứng còn lại là 85 viên có khối lượng là 8,19 gam ký hiệu L1;
- Số bột màu trắng liên kết có khối lượng là 0,51 gam đã trích 0,03 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu S2, vật chứng còn lại là 0,48 gam ký hiệu L2.
Tại bản kết luận giám định số 702/KL ngày 29/3/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu S1 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Mẫu ký hiệu S2 gửi giám định là ma tuý; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 8,38 gam, loại Methamphetamine và 0,51 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 24/3/2023 S cầm theo số tiền 200.000 đồng đi bộ từ nhà lên khu vực rừng giáp ranh với xã C1, huyện S để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi S lên đến khu vực rừng thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không nhớ tên, tuổi và địa chỉ ở đâu, nhưng S nhớ mặt do đã gặp trước đây, S hỏi mua ma tuý thì người này đồng ý và đưa cho S 01 túi nilon màu xanh chứa các viên Hồng phiến và 01 gói nilon màu xanh chứa Heroine, nhận lấy số ma tuý S đưa cho người này số tiền 200.000 đồng, người đàn ông này nhận tiền và nói với S còn thiếu 400.000 đồng. Do S không còn tiền nữa nên người đàn ông này đồng ý cho S nợ lại 400.000 đồng, người đàn ông này sẽ tự đến nhà S để lấy sau. Mua được ma tuý S đem về nhà, trong hai ngày 24/3/2023 và 25/3/2023 S đã sử dụng hết 08 viên Hồng phiến và một ít Heroine, số ma tuý còn lại S giấu vào túi vải màu đen đeo trên người để sử dụng dần. Đến 08 giờ 30 phút ngày 26/3/2023 khi S đang ở nhà thì tổ công tác Công an xã H, huyện Sông Mã đến làm nhiệm vụ phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 128/CT-VKSSM ngày 02 tháng 8 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Sộng Thị S về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Sộng Thị S từ 06 năm - 06 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định cùng 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh nilon, 01 túi vải màu đen; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 08 giờ 35 phút, ngày 26/3/2023 đối với Sộng Thị S cùng vật chứng bị thu giữ là 87 viên nén màu hồng và 01 gói chất bột liên kết màu trắng; Kết luận giám định 702/KL ngày 29/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận là ma túy: “… Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 8,38 gam loại Methamphetamine và 0,51 gam loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/3/2023 bị cáo đã có hành vi mua được một số viên hồng phiến và 01 gói Heroine, sau khi mua được đã trích ra sử dụng hết 08 viên hồng phiến và một ít Heroine, số còn lại bao gồm là 8,38 gam Methamphetamine và 0,51 gam Heroine (Heroin), tổng khối lượng hai chất là 8,89 gam đang tàng trữ để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ vào ngày 26/3/2023. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “05 năm đến 10 năm tù”.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Đối với số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định được đựng trong 02 túi nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh nilon, 01 túi vải màu đen là những vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
Về người đàn ông bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để mở rộng điều tra là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị được miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Sộng Thị S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Sộng Thị S 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,48 gam Heroine được đựng trong 01 túi nilon, 8,19 gam Methamphetamine được đựng trong 01 túi nilon cùng 01 mảnh nilon, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 066038. 01 túi vải màu đen, không rõ nhãn hiệu.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 117/QĐ – VKS ngày 01/8/2023 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/8/2023 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/8/2023).
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND huyện - Công an huyện; - Trại giam; - THA hình sự ; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |