- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Dương Thị O được ly hôn anh Chu Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25-7-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Long
Ông Hoàng Văn Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2023/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số:118/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị O, sinh năm 1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
2. Bị đơn:Anh Chu Văn T, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Thường trú: Tổ dân phố M, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).
Địa chỉ cuối cùng của anh T tại Việt Nam: Tổ dân phố M, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Chu Văn Đ, sinh năm 1971 (vắng mặt)
- Bà Ngụy Thị L, sinh năm 1975 ( vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Dương Thị O trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh T được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 11/12/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là thị trấn T), huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã không thể hòa hợp được, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng chị không hợp nhau và không có tiếng nói chung nên vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, vợ chồng không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau nữa. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Chu Văn T.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Chu Thị Kiều L, sinh ngày 21/8/2018 và Chu Thị Kiều A, sinh ngày 19/5/2020. Hiện các cháu đang sống cùng với ông, bà nội là ông Chu Văn Đ và bà Ngụy Thị L. Nay vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng giao cháu L và cháu A cho anh T nuôi dưỡng, giáo dục. Do anh T đang lao động ở nước ngoài nên chị đề nghị tạm giao cháu L và cháu A cho ông Đ và bà L nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi anh T về nước. Lý do chị không nhận nuôi hai con chung vì hiện tại chị làm nghề tự do, không có công việc cũng như thu nhập ổn định để nuôi con, chị không có chỗ ở nên chị không thể chăm sóc các con tốt được, bên cạnh đó anh T và gia đình anh T có nguyện vọng nuôi hai con. Để đảm bảo cho con chị được phát triển tốt nhất, không bị xáo trộn về cuộc sống. Nên chị đề nghị Tòa án giao hai con chung cho anh T và bố, mẹ đẻ anh T nuôi dưỡng để các cháu có điều kiện phát triển hơn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Chu Văn T là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Chu Văn Đ và bà Ngụy Thị L trình bầy: Anh T và chị O kết hôn năm 2017, quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, gia đình đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Anh T, chị O có 02 con chung là cháu Chu Thị Kiều L, sinh ngày 21/8/2018 và Chu Thị Kiều A, sinh ngày 19/5/2020, hiện các cháu đang sống cùng với vợ chồng ông, bà.
Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, ông bà đã thông báo cho anh T biết nhưng anh T không gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và từ chối cung cấp địa chỉ hiện tại của anh T tại nước ngoài. Anh T có trao đổi với ông bà, anh T có nguyện vọng nuôi cháu Chu Thị Kiều L và Chu Thị Kiều A và đề nghị tạm giao cháu L, cháu A cho ông, bà nuôi dưỡng trong thời gian anh T ở nước ngoài.
Tại phiên tòa, chị Dương Thị O, ông Chu Văn Đ, bà Ngụy Thị L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Chu Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Dương Thị O, biên bản lấy lời khai ông Chu Văn Đ và bà Ngụy Thị L và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Dương Thị O và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chu Văn Đ, bà Ngụy Thị L đều có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Chu Văn T không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Về hôn nhân: Cho chị Dương Thị O được ly hôn anh Chu Văn T.
Về nuôi con chung: Giao cháu Chu Thị Kiều L, sinh ngày 21/8/2018 và Chu Thị Kiều A, sinh ngày 19/5/2020 cho anh Chu Văn T nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, nhưng tạm giao cho ông Chu Văn Đ và bà Ngụy Thị L nuôi dưỡng trong thời gian anh T ở nước ngoài.
Về án phí: Chị Dương Thị O phải chịu 300.000đ tiền án phí được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị O đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Dương Thị O khởi kiện xin ly hôn anh T và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Anh T hiện đang ở nước ngoài chị không có địa chỉ cụ thể của anh T. Theo Công văn số:14541/QLXNC-P5 ngày 09/6/2023 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh-Bộ công an cung cấp, anh T xuất cảnh ngày 05/5/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vụ án có bị đơn anh T hiện nay đang ở nước ngoài. Địa chỉ cuối cùng của anh T ở Việt Nam tại: Tổ dân phố M, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
.Về sự vắng mặt của đương sự:
Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Dương Thị O và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Chu Văn Đ, bà Ngụy Thị L: Chị O, ông Đ và bà L đều có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Dương Thị O, ông Chu Văn Đ và bà Ngụy Thị L.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn, ông Đ, bà L (là bố, mẹ anh T), Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của anh T trước khi xuất cảnh ở Tổ dân phố M, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh T thông qua người thân của anh T là bà Ngụy Thị L (mẹ đẻ anh T) và đề nghị bà L thông báo cho anh T biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Dương Thị O và bị đơn là anh Chu Văn T. Bà Ly cho biết anh T vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh T không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh T tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị O và anh Chu Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 11/12/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là thị trấn T), huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị O, anh T phát sinh mâu thuẫn, chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Chu Văn T.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Dương Thị O đối với anh Chu Văn T. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị O, anh T chung sống với nhau không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã không thể hàn gắn được nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022, anh T đi nước ngoài từ tháng 5/2023 đến nay chị O và anh T không còn quan tâm, không còn liên lạc với nhau nữa. Ngoài ra, mẹ đẻ anh T là bà Ly cũng xác định vợ chồng chị O, anh T có mâu thuẫn, gia đình đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng chị O, anh T hiện nay không còn liên lạc, không còn quan tâm đến nhau nữa. Ai có cuộc sống của người đó, không ai quan tâm ai. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị O, anh T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị O đối với anh T, xử cho chị O được ly hôn anh T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
. Về nuôi con chung: Chị O, anh T có 02 con chung là cháu Chu Thị Kiều L, sinh ngày 21/8/2018 và Chu Thị Kiều A, sinh ngày 19/5/2020. Sau khi ly hôn chị O có nguyện vọng giao cháu L và cháu A cho anh T nuôi dưỡng nhưng tạm giao cháu L, cháu A cho ông Đ và bà L là bố, mẹ đẻ anh T nuôi dưỡng trong thời gian anh T ở nước ngoài. Ông Đ, bà L (bố, mẹ đẻ anh T) đều trình bầy đồng ý nuôi hai con chung của chị O, anh T trong thời gian anh T ở nước ngoài.
Xét yêu cầu của chị O: Hội đồng xét xử thấy hiện cháu L và cháu A đang sống cùng với ông Đ và bà L, các cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Chị O trình bầy chị không nuôi dưỡng hai con vì chị làm nghề tự do, không có công việc cũng như thu nhập ổn định và chỗ ở. Do đó, Hội đồng xét xử thấy để chị O trực tiếp nuôi hai con sẽ không đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các con chung của chị O, anh T. Mặt khác, anh T mặc dù không có lời khai nhưng thông qua liên lạc của ông Đ, bà L (bố, mẹ anh T) anh T đồng ý nuôi dưỡng cháu L và cháu A nhưng tạm giao hai con chung cho ông Đ, bà L nuôi dưỡng trong thời gian anh ở nước ngoài. Ông Đ, bà L đồng ý nuôi hai cháu L và cháu A trong thời gian anh T ở nước ngoài. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị O. Giao cháu L và cháu A cho anh T nuôi dưỡng sau khi ly hôn đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Nhưng giao cháu L và cháu A cho ông Chu Văn Đ và bà Ngụy Thị L nuôi dưỡng trong thời gian anh T ở nước ngoài là phù hợp quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của cháu L và cháu Anh.
Sau khi ly hôn chị O không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở chị O thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
.Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về tài sản, công nợ chung:Chị O không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
.Về án phí: Chị Dương Thị O phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
. Về quyền kháng cáo:
Chị Dương Thị O, ông Chu Văn Đ, bà Ngụy Thị L đang ở trong nước vắng mặt tại phiên, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Chu Văn T đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1. Về hôn nhân: Chị Dương Thị O được ly hôn anh Chu Văn T.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Chu Thị Kiều L, sinh ngày 21/8/2018 và cháu Chu Thị Kiều A, sinh ngày 19/5/2020 cho anh Chu Văn T nuôi dưỡng đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, nhưng tạm giao cháu Chu Thị Kiều L và cháu Chu Thị Kiều A cho ông Chu Văn Đ và bà Ngụy Thị L nuôi dưỡng trong thời gian anh T ở nước ngoài.
Sau khi ly hôn chị O không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị O thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị Dương Thị O phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005384 ngày 01/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Dương Thị O đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4.Về quyền kháng cáo bản án: Chị Dương Thị O, ông Chu Văn Đ, bà Ngụy Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Chu Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Bắc Giang; -Cục THADS tỉnh Bắc Giang; -UBND thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; -Cổng thông tin điện tử TAND; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án; -Lưu Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |