- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2022/HSST Ngày 31-10-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Đình Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Bá Lý
2. Ông Quách Đình Hoằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đại Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thái Bình - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 10 năm 2022, tại: Trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 167/2022/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tuấn A (tên gọi khác: B), sinh năm 1994, tại: Gia Lai. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: 300/4 đường H, Tổ 1, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Sửa máy tính; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hùng C, sinh năm 1969 và bà Phạm Thị Thu B, sinh năm 1974. Bị cáo chưa có vợ.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/6/2022 đến ngày 03/7/2022 bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Pleiku.
Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tuấn A là người có sử dụng ma túy (loại Methamphetamine) từ năm 2019. Thông qua các mối quan hệ xã hội, Tuấn A có quen biết 01 người phụ nữ tên gọi là Vân (không rõ nhân thân, lai lịch). Vào khoảng 13 giờ ngày 24/6/2022, Tuấn A đang đi chơi tại khu vực hẻm số 42 đường L, Tổ 5, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì gặp Vân. Cả hai đứng nói chuyện với nhau được một lúc, trước khi đi về thì Vân đưa cho Tuấn A 01 gói nilon có chứa ma túy đá và nói Tuấn A sử dụng thử, sau này có nhu cầu sử dụng ma túy thì liên hệ với Vân để mua, rồi Vân bỏ đi. Tuấn A đã nhận gói ma túy này và cầm trên tay với mục đích để sử dụng. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nguyễn Tuấn A đang đi bộ trong hẻm 42 đường L, Tổ 5, phường T, thành phố P thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố Pleiku phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an tỉnh Gia Lai phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng; thu giữ trên tay của Nguyễn Tuấn A 01 gói nilon bên trong có chứa chất rắn, dạng tinh thể, màu trắng (đã được niêm phong theo quy định) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, kèm thẻ sim (mặt sau sim có dãy số 8401.2011.5212.8090).
Qua giám định, tại bản Kết luận giám định số 438/KL-KTHS ngày 02/7/2022, của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 gói nilon trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4027 gam”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku chuyển theo vụ án, để xử lý gồm: Chiếc điện thoại kèm thẻ sim nêu trên cùng chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định, trong 01 bì dán kín ghi số 438/PC09 ngày 02/7/2022, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung nêu trên.
Bản cáo trạng số: 179/CT-VKS ngày 05/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A mức án từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 24/6/2022; hình phạt bổ sung: Không.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định;
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, kèm thẻ sim
- Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Tuấn A không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa.
Bị cáo Nguyễn Tuấn A nói lời nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Pleiku, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người chứng kiến không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tuấn A tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai của bị cáo có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với các tài liệu: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định bị cáo đã thực hiện hành vi như sau:
Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 24/6/2022, tại khu vực hẻm 42 đường L, Tổ 5, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, khi Nguyễn Tuấn A đang tàng trữ 0,4027 gam chất ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố Pleiku phát hiện bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng.
Bị cáo Nguyễn Tuấn A hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện của mình, bị cáo đã cố ý tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn A đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo có ông, bà ngoại là người có công với Cách mạng (ông Phạm Công H được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì; bà Dương Thị H được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba) nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Nguyễn Tuấn A có nhân thân tốt, thể hiện đây là lần đầu phạm tội. Tuy nhiên, bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để giúp bị cáo tự cải tạo và răn đe, phòng ngừa tội phạm cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Hiện bị cáo không có tài sản và phạm tội không nhằm mục đích thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
Đối với ma túy còn lại sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại Redmi kèm thẻ sim là của cá nhân bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo tìa sản này.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku không xác định được nhân thân, lai lịch của người phụ nữ tên Vân mà theo lời khai của bị cáo thì người này đã giao ma túy cho bị cáo nên chưa có căn cứ để điều tra, xử lý. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s Khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 24/6/2022.
2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định đựng trong 01 bì công văn ghi số 438/PC09 ngày 02/7/2022, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, kèm sim số.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/10/2022, giữa: Công an thành phố Pleiku và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku)
3. Căn cứ Khoản 2 Điều 135 và Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND Tp. Pleiku; - Công an Tp. Pleiku; - Chi cục THADS Tp. Pleiku; - Bị cáo, Người bào chữa (nếu có); - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đình Nguyên |