vanban.org

Bản án 169/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 20/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Đình V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Đình V 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 10/6/2022). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình Việt - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đình V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2022/HS-ST
Ngày: 20-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bồ Thị Thái, ông Quàng Văn Khoa

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 172/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Đình V (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1995 tại huyện C, tỉnh T; Nơi ĐKHKTT: Thôn Nh, xã H, huyện C, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Trần Đình Ch (đã chết) và bà Phạm Thị M; Bị cáo có vợ là Lê Thị Th và có 02 con (con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021); tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10 tháng 6 năm 2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 45 phút ngày 10/6/2022, Công an xã Chiềng Đen, phối hợp với công an xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La đã phát hiện, bắt quả tang Trần Đình V về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy tại khu vực bản D, xã Chiềng Ng, thành phố Sơn La. Thu giữ vật chứng: 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa 06 viên nén đồng dạng màu hồng, V khai là hồng phiến cất giấu để sử dụng.

Ngày 11/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Trần Đình V khi bắt quả tang, kết quả: 06 viên nén đồng dạng màu hồng có tổng khối lượng 0,55 gam, lấy 03 viên có khối lượng 0,28 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu là V1, còn lại 03 viên có khối lượng 0,27 gam lưu kho ký hiệu V2.

'

*í

Tại kết luận giám định số 1012 ngày 12/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình

r

/' sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu V1 là ma túy; loại chất Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,28 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,55 gam; loại Methamphetamine”, không hoàn lại đối tượng giám định.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Đình V khai nhận: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 10/6/2022, V đi bộ từ phòng trọ của V tại Tổ 08, Phường T, Thành phố S, Tỉnh Sơn La đến khu vực Bản D, Xã Chiềng Ng, Thành phố S tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực đường dân sinh gần cổng chào Bản D, V gặp một người nam giới khoảng 35 tuổi (không biết tên, địa chỉ cụ thể) đang đứng bên lề đường. Qua trao đổi, V mua được của người nam giới đó 06 viên Hồng phiến được gói trong 01 mảnh giấy bạc với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).Sau đó, V giấu gói ma túy vừa mua được vào trong túi quần đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Đi được khoảng 20m thì bị phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Về nguồn gốc 0,55 gam Methamphetamine bị cáo khai mua của một người nam giới (không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) vào ngày 10/6/2022 tại khu vực Bản D, Xã Chiềng Ng, Thành phố S. Ngoài lời khai của bị caó không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác. Do vậy, Cơ quan Cành sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Buộc Trần Đình V phải chịu trách nhiệm toàn bộ số ma túy bị thu giữ.

Tại bản cáo trạng số 353/CT-VKSTP ngày 30/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Trần Đình V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Đình V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bi ̣ cáo Trần Đình V từ 18 đến 20 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; mẫu lưu có khối lượng 0,27 gam ký hiệu V2.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đình V nhận tội, không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn la, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thể hiện:

Ngày 10/6/2022, Trần Đình V đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,55 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng, tại khu vực bản D, xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 45 phút ngày 10/6/2022 tại khu vực bản D, xã Chiềng Ng, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Trần Đình V cùng vật chứng thu giữ là 0,55 gam hồng phiến; kết luận giám định Là Methamphetamine.

- Lời khai nhận tội của bị cáo;

Lời khai của anh Lò Văn Th, trú tại: Xã Chiềng C, thành phố S, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Đình V.

Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Đình V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Trần Đình V phạm tội với tổng khối lượng 0,55 gam Methamphetamin đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi phạm tộ i của bi ̣ cáo gây nguy hi ểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mứ c hinh pha ̣t nghiêm khắc tương

̀ xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe giáo dục và phòng ng ừa chung, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Đối với số ma túy còn lại sau khi trừ mẫu giám định là loại Nhà Nước cấm lưu hành cùng 1 mảnh giấy bạc không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Trần Đình V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Đình V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Đình V 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 10/6/2022).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu có khối lượng 0,27 gam ký hiệu V2.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 9 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Trần Đình V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Đình V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/9/2022).

Cỡ chữ