vanban.org

Bản án 169/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 10/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 24/2022/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang để điều tra lại. Án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Đặng Anh T + Đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 24/2022/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2022/HS-PT
Ngày: 10 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Đạt

Bà Lê Thị Hồng Tâm

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 và 10 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 96/2022/TLPT-HS ngày 18 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo Trần Đặng Anh T và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo Trần Đặng Anh T, Nguyễn Khắc T1, Hồ Minh Nh, Nguyễn Trung T2 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2022/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Đặng Anh T, sinh năm 1982 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp ĐH, xã ST, huyện CT, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: sửa điện thoại; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Gới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C, sinh năm 1957 và bà Đặng Thị P, sinh năm 1961; Vợ: Trần Thị Thanh Tr, sinh năm 1989 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không;

- Bị cáo bị bắt từ ngày 19/11/2020 đến ngày 28/11/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Khắc T1, sinh năm 1994 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp Th, xã ST, huyện CT, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1970 và bà Tăng Thị Th, sinh năm 1970; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Hồ Minh Nh, sinh ngày 15/11/2003 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp 1, xã ĐT, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Minh Tr, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Trúc Gi, sinh năm 1983; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Trung T2, sinh ngày 24/3/1987 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp MT, xã MP, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1946 và bà Lê Thị Thu C, sinh năm 1957 (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho các bị cáo T, T1, Nh, T2: Luật sư Võ Trọng K - Chi nhánh Văn phòng Luật sư Võ Trọng K, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

Ngoài ra, còn có 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; Bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ 35 phút ngày 19/11/2020, Phòng Cảnh sát Hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang phối hợp Công an huyện CT và Công an xã ST tiến hành kiểm tra tại khu vườn của ông Đôi, thì phát hiện có nhiều người đang tụ tập đánh bạc dưới hình thức đá gà truyền thống và cá cược trực tuyến qua mạng internet thắng thua bằng tiền. Lực lượng công an lập biên bản phạm tội quả tang đối với Trần Đặng Anh T, Hồ Minh Nh về hành vi sử dụng thiết bị điện tử tổ chức việc cá cược qua mạng internet.

Với mục đích thu lợi bất chính, T đã thực hiện hành vi đánh bạc trực tuyến và tổ chức để những người chơi bạc khác tham gia cá cược trên mạng internet và đá gà truyền thống.

Đối với hình thức đánh bạc qua mạng ineternet:

T liên hệ trên mạng xã hội với một người không rõ nhân thân, địa chỉ rồi mua được tài khoản, mật khẩu cá cược trực tuyến. T mua được tài khoản “vuonbap79” với mật khẩu “TU1234567” đăng nhập vào trang web đánh bạc trực tuyến có địa chỉ: “svv388.com”.

Từ ngày 16/11/2020, T liên hệ với người đang quản lý khu đất trên là anh Nguyễn Trung T2 (là con ruột của ông Đ) để thuê địa điểm tổ chức sới bạc, với giá 300.000 đồng/ngày, thì T2 đồng ý. T chuẩn bị các thiết bị như: Laptop, ti vi, thiết bị sạc, dây điện rồi liên hệ T2 để mang đến lắp đặt. T2 cung cấp nguồn điện cho T để vận hành các thiết bị điện tử.

Ngoài ra, T thuê Nh làm nhiệm vụ điều khiển thiết bị điện tử để nhập dữ liệu cá cược từ người chơi bạc. Sau khi T đăng nhập vào trang web cá cược thì giao máy lại cho Nh, Nh thao tác trên máy để đặt tiền cho các con bạc khi tham gia cá cược. T thuê Nguyễn Khắc T1 làm nhiệm vụ thu, chi tiền cá cược từ người chơi bạc. Mỗi ngày có chơi cá cược qua mạng, T giao tiền cho T1 để khi mỗi trận gà kết thúc, T1 sử dụng tiền T đưa để chi cho người chơi bạc thắng hoặc thu tiền của người chơi thua cược. T thỏa thuận trả cho Nh, T1 số tiền 1.500.000 đồng/người/tuần.

Hình thức đánh bạc trực tuyến mà T thực hiện và cùng các bị can khác tổ chức là đá gà, đánh bài, mà chủ yếu là đánh bài “Baccarat” trực tuyến.

Vào ngày 19/11/2020, T giao cho T1 số tiền 15.000.000đồng và cùng có mặt tại sới bạc để tổ chức cho người chơi đánh bài “Baccarat”. Đến khi lực lượng Công an bắt quả tang thì T1 chạy thoát, bỏ lại số tiền đánh bạc 30.000.000đồng ở gần laptop. Đến ngày 02/12/2020, T1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện CT đầu thú.

Thông qua trích xuất lịch sử giao dịch của tài khoản cá cược “vuonbap79” từ ngày 05/10/2020 đến ngày 19/11/2020 ghi nhận như sau:

- Từ ngày 05/10/2020 đến ngày 15/11/2020:

Theo lời khai của T thì các giao dịch phát sinh trong khoảng thời gian từ ngày 05/10/2020 đến ngày 15/11/2020 là do T tự đặt cược dưới hình thức đá gà, đánh bài trên trang web “svv388.com”, không tổ chức cho người khác chơi. Khi T tự đặt cược thì theo quy ước với người đưa tài khoản, mật khẩu là 01 điểm trên hệ thống sẽ tương đương với 10.000 đồng tiền Việt Nam.

Tổng cộng, T đã đặt cược với tổng số tiền là: 36,959 điểm, tương đương 369.590.000 đồng. Số tiền cá cược từng ngày cụ thể như sau:

+ Ngày 05/10/2020: 135 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 1.350.000 đồng.

+ Ngày 06/10/2020: 1.674 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 16.740.000 đồng.

+ Ngày 07/10/2020: 1.130 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 11.300.000 đồng.

+ Ngày 08/10/2020: 9.258 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 92.580.000 đồng.

+ Ngày 10/10/2020: 550 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 5.500.000 đồng.

+ Ngày 11/10/2020: 535 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 5.350.000 đồng.

+ Ngày 12/10/2020: 811 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 8.110.000 đồng.

+ Ngày 13/10/2020: 191 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 1.910.000 đồng.

+ Ngày 14/10/2020: 111 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 1.110.000 đồng.

+ Ngày 15/10/2020: 1.850 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 18.500.000 đồng.

+ Ngày 16/10/2020: 2.341 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 23.410.000 đồng.

+ Ngày 17/10/2020: 1.151 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 11.510.000 đồng.

+ Ngày 18/10/2020: 146 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 1.460.000 đồng.

+ Ngày 26/10/2020: 1.592 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 15.920.000 đồng.

+ Ngày 27/10/2020: 3.098 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 30.980.000 đồng.

+ Ngày 28/10/2020: 1.547 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 15.470.000 đồng.

+ Ngày 29/10/2020: 649 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 6.490.000 đồng.

+ Ngày 30/10/2020: 1.462 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 14.620.000 đồng.

+ Ngày 31/10/2020: 1.046 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 10.460.000 đồng.

+ Ngày 01/11/2020: 1.381 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 13.810.000 đồng.

+ Ngày 02/11/2020: 1.008 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 10.080.000 đồng.

+ Ngày 03/11/2020: 1.463 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 14.630.000 đồng.

+ Ngày 04/11/2020: 1.775 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 17.750.000 đồng.

+ Ngày 05/11/2020: 15 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 150.000 đồng.

+ Ngày 07/11/2020: 41 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 410.000 đồng.

+ Ngày 08/11/2020: 1.851 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 18.510.000 đồng.

+ Ngày 15/11/2020: 133 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 1.330.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền đánh bạc là: 361.720.000 đồng. Trong đó, ngày 08/10/2020 bị cáo đánh bạc với số tiền 92.580.000 đồng; các ngày còn lại đều dưới 50.000.000 đồng.

Kết quả thắng thua trong những ngày tự cá cược, T đã thua 1,162.05 điểm, tương ứng số tiền 11.620.500đồng.

- Từ ngày 16/11/2020 đến ngày 18/11/2020:

T đã tổ chức cho người khác cá cược tại khu vườn do Nguyễn Trung T2 quản lý. T đặt ra quy ước với người chơi là 01 điểm trên hệ thống sẽ tương đương với 100.000đồng tiền Việt Nam, nghĩa là cao hơn 90.000đồng so với quy ước giữa T và người cung cấp tài khoản. Số tiền chênh lệch này là tiền T thu lợi từ người chơi.

Từ ngày 16/11/2020 đến ngày 18/11/2020, tổng số điểm cược trên hệ thống là 25.583 điểm, tương ứng với số tiền 2.558.300.000đồng. Số tiền cá cược từng ngày cụ thể như sau:

+ Ngày 16/11/2020: 2,457 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 245.700.000 đồng. Kết quả lợi nhuận: Thắng được 520.46 điểm, tương ứng 52.046.000 đồng.

+ Ngày 17/11/2020: 8,614 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 861.400.000 đồng. Kết quả lợi nhuận: Thắng được 874.87 điểm, tương ứng 87.487.000 đồng.

+ Ngày 18/11/2020: 14.512 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 1.451.200.000đồng. Kết quả lợi nhuận: Thua 2,101.68 điểm, tương ứng 210.168.000 đồng.

Do hệ thống cá cược trực tuyến chỉ trích xuất được số tiền cá cược cộng dồn của 01 ngày, nên không rõ được số tiền của từng trận cá cược trong các ngày 16, 17 và 18/11/2020. Các bị can T, Nh, T1 cũng không xác định được người chơi và các trận cá cược cụ thể trong 03 ngày này. Tổng lợi nhuận trong 03 ngày trên là: Thua 70.635.000 đồng.

- Các giao dịch cá cược trực tuyến diễn ra trong ngày 19/11/2020:

Trong ngày 19/11/2020 cho đến khi bị bắt quả tang, có 40 giao dịch cá cược đánh bài “Baccarat”, tương ứng với 40 ván bài trực tuyến diễn ra. Trong đó, T xác định tự đặt cược ở 30 ván (số thứ tự: 1, 2, 5, 7, 11, 14, 15, 16, 18, 19, 20, 21, 23 – 40); các ván còn lại (số thứ tự: 3, 4, 6, 8, 9, 10, 12, 13, 17, 22) thì T cùng Nh, T1 tổ chức cho con bạc đặt cược. Những trận T tự đặt cược thì vẫn quy đổi 01 điểm trên hệ thống là 10.000 đồng; những trận con bạc đặt cược thì quy đổi 01 điểm là 100.000 đồng.

+ Giao dịch mà T tự đặt cược có mức cược thấp nhất là 05 điểm (tương đương 50.000 đồng), cao nhất là 200 điểm (tương đương 2.000.000 đồng). Tổng cộng T đã cược 1.965 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 19.650.000 đồng.

+ Giao dịch mà T cùng Nh, T2 tổ chức cho con bạc đặt cược có mức cược thấp nhất là 3 điểm (tương đương 300.000 đồng), cao nhất là 50 điểm (tương đương 5.000.000 đồng). Từ 12 giờ 21 phút 13 giây đến 12 giờ 33 phút 10 giây ngày 19/11/2020, các bị can đã tổ chức cho con bạc cược 223 điểm, tương ứng số tiền đánh bạc là: 22.300.000 đồng, với 10 giao dịch cá cược được thực hiện, cụ thể như sau:

▪ Trận số 3: 05 điểm, kết quả thua, số tiền đánh bạc là 500.000 đồng.

▪ Trận số 4: 50 điểm, kết quả thua, số tiền đánh bạc là 5.000.000 đồng.

▪ Trận số 6: 20 điểm, kết quả thắng được 19 điểm, số tiền đánh bạc là 3.900.000 đồng.

▪ Trận số 8: 03 điểm, kết quả thua, số tiền đánh bạc là 300.000 đồng.

▪ Trận số 9: 05 điểm, kết quả thua, số tiền đánh bạc là 500.000 đồng.

▪ Trận số 10: 05 điểm, kết quả thua, số tiền đánh bạc là 500.000 đồng.

▪ Trận số 12: 05 điểm, kết quả thua, số tiền đánh bạc là 500.000 đồng

▪ Trận số 13: 50 điểm, kết quả thua, số tiền đánh bạc là 5.000.000 đồng.

▪ Trận số 17: 30 điểm, kết quả thắng, số tiền đánh bạc là 6.000.000 đồng.

▪ Trận số 22: 50 điểm, kết quả thua, số tiền đánh bạc là 5.000.000 đồng.

Tổng số tiền hoa hồng (tiền xâu từ hệ thống) mà T nhận được từ ngày 05/10/2020 đến ngày 19/11/2020 là 177,64 điểm, tương ứng với số tiền: 1.770.640 đồng (chưa nhận được)

Đối với hình thức đá gà truyền thống:

T tổ chức sới bạc đá gà thắng thua bằng tiền, ở gần bên cạnh vị trí đặt thiết bị cá cược trực tuyến. Vào ngày 19/11/2020 T giao cho Khoa, Tiền, Nhóc tổ chức được 03 trận gà cá cược thắng thua bằng tiền.

Do chưa thể xác định được những người liên quan đến sới bạc đá gà truyền thống nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện CT đã tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2022/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

1/ Tuyên bố: bị cáo Trần Đặng Anh T phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm c khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Đặng Anh T 03 năm tù về tội “Đánh bạc” và 05 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” .

Tổng hợp hình phạt: buộc bị cáo Trần Đặng Anh T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm 03 tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù T2 từ ngày bị bắt đi chấp hành án. Trừ thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 19/11/2020 đến ngày 28/11/2020.

2/ Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Khắc T1, Hồ Minh Nh, Nguyễn Trung T2 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T1 05 năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T2 05 năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Minh Nh 03 năm 09 tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Trong các ngày 01/3/2022 và ngày 03/3/2022, các bị cáo Trần Đặng Anh T, Nguyễn Khắc T1 và Nguyễn Trung T2 có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Hồ Minh Nh kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo T1, Nh, T2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Bị cáo T thay đổi yêu cầu kháng cáo xin xem xét lại tội danh “Tổ chức đánh bạc” đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo thay đổi lời khai cho rằng các bị cáo có tổ chức đánh bạc nhưng không có người tham gia, toàn bộ số điểm thể hiện khi trích xuất lịch sử giao dịch của tài khoản cá cược “vuonbap79” từ ngày 05/10/2020 đến ngày 19/11/2020 là do bị cáo T tự chơi. Đối với số tiền 30.000.000 đồng Công an thu giữ tại hiện trường là toàn bộ số tiền bị cáo T đưa cho bị cáo T1 giữ chứ không phải chỉ đưa 15.000.000 đồng, còn 15.000.000 đồng là tiền thắng bạc như lời khai của bị cáo T và bị cáo T1 đã khai trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm. Đây chỉ là lời khai nại của các bị cáo, không phù hợp với những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra nên lời khai này của các bị cáo là không có căn cứ. Cấp sơ thẩm quy kết các bị cáo phạm tội tổ chức đánh bạc, bị cáo T phạm thêm tội đánh bạc là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, Viện kiểm sát cũng phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Người bào chữa cho các bị cáo tranh luận: Luật sư thống nhất về tội đánh bạc mà cấp sơ thẩm đã quy kết đối với bị cáo T. Tuy nhiên, đối với tội tổ chức đánh bạc cấp sơ thẩm quy kết đối với các bị cáo là chưa có căn cứ vững chắc. Mặc dù, tại cấp sơ thẩm các bị cáo thừa nhận có tổ chức đánh bạc nhưng ngoài những lời thừa nhận này Cơ quan điều tra cũng không có chứng cứ gì khác chứng minh hành vi tổ chức đánh bạc của các bị cáo, không chứng minh được có người tham gia đánh bạc. Theo quy định tại Điều 98 Bộ luật tố tụng Hình sự: “Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.” Nghĩa vụ chứng minh tội phạm phạm là của cơ quan tiến hành tố tụng. Cấp sơ thẩm xác định số tiền 30.000.000 đồng Công an thu giữ tại hiện trường là: 15.000.000 đồng bị cáo T đưa cho bị cáo T1 giữ để chung khi con bạc thắng còn số tiền 15.000.000 đồng còn lại là bị cáo T1 thu của con bạc khi con bạc thua. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thống nhất khai toàn bộ số tiền trên bị cáo T đưa cho bị cáo T1 giữ từ đầu và không có người nào tham gia đánh bạc ngoài bị cáo T trong các ngày 17 đến 19/11/2020. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại để không làm oan sai cho các bị cáo.

- Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo T đề nghị xem xét lại tội danh tổ chức đánh bạc cho bị cáo, bị cáo tự chơi chứ không có ai tham gia. Các bị cáo còn lại xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi đánh bạc của bị cáo T: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Đặng Anh T thừa nhận hành vi đánh bạc như cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đầy đủ cơ sở xác định: từ ngày 05/10/2020 đến ngày 15/11/2020 và trong ngày 19/11/2020 bị cáo tự đánh bạc với tổng số tiền là 381.370.000đồng, (trong đó, ngày 08/10/2020 bị cáo đánh bạc với số tiền 92.580.000đồng).

Về hành vi tổ chức đánh bạc của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo không thừa nhận hành vi tổ chức đánh bạc như cấp sơ thẩm đã quy kết đối với các bị cáo do không có người tham gia đánh bạc. Toàn bộ số điểm liệt kê khi trích xuất lịch sử giao dịch của tài khoản cá cược “vuonbap79” từ ngày 16/11/2020 đến ngày 19/11/2020 là do bị cáo T tự đặt cược, không có người khác tham đánh bạc. Đối với số tiền 30.000.000 đồng thu giữ tại hiện trường là toàn bộ số tiền bị cáo T đưa cho bị cáo T1 giữ ngày 19/11/2020 (không phải T đưa T1 15.000.000 đồng còn 15.000.000 đồng là tiền thắng bạc của các con bạc như án sơ thẩm nêu). Toàn bộ 40 trận giao dịch cá cược trong ngày 19/11/2020 đều do bị cáo T tự đặt cược, không có người nào khác tham gia cá cược, đồng thời trong 40 giao dịch cá cược này đều quy đổi 01 điểm trên hệ thống là 10.000đ. Các bị cáo T1, Nh, T2 cũng cho rằng chưa nhận được tiền công từ bị cáo T trả do không có người tham gia đánh bạc.

Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, ngoài lời khai của các bị cáo ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh có người khác tham gia cá cược. Theo quy định tại Điều 98 Bộ luật tố tụng Hình sự quy định: “...Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.”. Tại phiên tòa, các bị cáo cũng đã thay đổi toàn bộ lời khai nên việc các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm quy kết các bị cáo phạm tội tổ chức đánh bạc là chưa có căn cứ vững chắc.

Do cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ các vấn đề nêu trên mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được do đó cần hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang để điều tra lại.

Do hủy án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xét đến kháng cáo của các bị cáo.

- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

- Ý kiến đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 24/2022/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang để điều tra lại.

2. Án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ