- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quang H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Quang H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 169 /2021/HS-ST Ngày: 10/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG -TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Quang, ông Nguyễn Văn Quyết.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 176/2021/HSST ngày 24/11/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2021/HSST-QĐ ngày 30/11/2021, đối với bị cáo:
Bùi Quang H, sinh năm 1997; ĐKHKTT: Khu 6, phường N, thành phố A, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Số 9/10A, phường N, thành phố A, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Thanh C và bà Đặng Thị D; Gia đình có hai anh em. Bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị E (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2018; Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/8/2021 chuyển tạm giam từ ngày 30/8/2021 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Xuân F; Địa chỉ: Thôn G, Xã H, huyện I, Hải Dương. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Hoàng Bảo K và anh Phạm Văn L. Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Quang H là người sử dụng ma túy tổng hợp. Khoảng 21giờ ngày 24/8/2021, H điều khiển xe mô tô kiểu dáng Exciter màu xanh trắng, BKS: 34B2-871.26 ra khu vực quảng trường M, phường O, thành phố A để tìm mua ma túy về bán kiếm lời. H gặp và mua của một người đàn ông tự giới thiệu tên Đức (không rõ họ, địa chỉ) 21 viên ma túy tổng hợp (dạng kẹo) và 01 gói ma túy Ketamine với số tiền 7.300.000 đồng. Sau đó H cho vào miệng ngậm 1 nửa túi nilon chứa ma túy, đeo khẩu trang vào để không ai phát hiện rồi điều khiển xe mô tô về xóm P, phường Q, thành phố A. Khoảng 21giờ 30 phút cùng ngày, khi H đến trước cửa số nhà 3 xóm P, phường Q, thành phố A thì tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Hải Dương kết hợp với Công an phường Q, thành phố A trong khi làm nhiệm vụ phát hiện và thu giữ trong miệng H đang ngậm 01 túi nilon màu trắng có kích thước khoảng (5x10)cm, bên trong có 21 viên nén hình ngũ giác màu xanh và 01 túi nilon có kích thước khoảng (2x3)cm, bên trong có chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng. H khai là ma túy tổng hợp dạng kẹo và dạng Ketamine vừa mua được với mục đích bán kiếm lời. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô kiểu dáng Exciter màu xanh trắng, BKS: 34B2-871.26 do H điều khiển trước sự chứng kiến của anh Hoàng Bảo K và anh Phạm Văn L.
Tại Kết luận giám định số 466/KLGĐ- PC09 ngày 27/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: 21 viên nén hình ngũ giác màu xanh thu giữ của H gửi đến giám định có tổng khối lượng 10,463g là ma túy loại MDMA.
Chất tinh thể dạng cục màu trắng thu giữ của H gửi đến giám định có tổng khối lượng là 0,782g là ma túy, loại Ketamine.
Về vật chứng: Đối với 9,969g MDMA và 0,731g Ketamine, 02 vỏ túi nilon màu trắng, 02 vỏ phong bì được niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì số 466/KLGĐ-PC09; 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Exciter màu xanh trắng, BKS: 34B2-871.26 hiện đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương.
Tại Cáo trạng số 172/CT-VKSTPHD, ngày 20/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Bùi Quang H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Quang H, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Về hình phạt chính: Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Quang H từ 08 năm 9 tháng đến 9 năm tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ (ngày 24/8/2021); Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 9,969g MDMA và 0,731g Ketamine, 02 vỏ túi nilon màu trắng, 02 vỏ phong bì được niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì số 466/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô kiểu dáng Exciter màu xanh trắng có số máy 55P1-194288, số khung: RLCE55P10CY194278; Trả lại anh Nguyễn Xuân F 01 biển số xe 34B2-871.26; Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo Bùi Quang H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/8/2021 tại trước cổng nhà số 3, xóm P, phường Q, thành phố Hải Dương, Bùi Quang H có hành vi cất giấu trái phép 10,463g MDMA và 0,782g Ketamine mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm nhưng vì mục đích tư lợi và ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo cất giấu hai chất ma túy, trong đó có một chất có khối lượng nằm trong tình tiết định khung khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và có tổng tỷ lệ phần trăm hai chất ma túy dưới 100%. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Đối với 9,969g MDMA và 0,731g Ketamine hoàn lại sau giám định là chất cấm lưu hành; các vỏ phong bì là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Exciter màu xanh trắng, BKS: 34B-87.26 thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác minh theo số khung, số máy của xe xác định số khung, số máy là hàng số nguyên thủy do Nhà sản xuất đóng ra, chủ xe là anh Trương Văn Tùng, loại xe Exciter; BKS: 34B1-961.53; Lời khai anh Tùng xác định tháng 2/2021 đã bán chiếc xe trên cho một người không quen biết tại thành phố A. Tra cứu biển số xe BKS: 34B2-871.26 xác định chủ xe là anh Nguyễn Xuân F, loại xe Wave SX, mẹ anh Xuân F là bà Đỗ Thị A1 xác định, anh Xuân F hiện đi Nhật, khoảng tháng 11/2015, anh Xuân F bị mất chiếc xe trên nhưng không trình báo Công an. Bị cáo khai mua tháng 6/2021 của một người không quan biết ở Huyện I khi mua không viết giấy tờ mua bán, người bán không đưa giấy đăng ký xe, chưa làm thủ tục đăng ký lại. Lời khai bị cáo phù hợp với lời khai của ông Bùi Thanh C (là bố của bị cáo) về thời gian mua, nguồn tiền mua và đều xác định quá trình sử dụng xe không có tranh chấp với ai. Tra cứu xe không có trong cơ sở xe máy vật chứng. Như vậy có căn cứ xác định chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Bị cáo đã sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với chiếc BKS: 34B2-871.26 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Xuân F cần trả lại cho anh Xuân F.
. Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về vấn đề khác: Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo do không làm rõ được tên tuổi, địa chỉ; chị Trương Huỳnh Ngọc N1 không biết việc bị cáo cất giấu, mua bán ma túy nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Quang H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Quang H 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 24/8/2021).
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 9,969g MDMA và 0,731g Ketamine, 02 vỏ túi nilon màu trắng, 02 vỏ phong bì ký hiệu M1, M2 được niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì số 466/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô kiểu dáng Exciter màu xanh trắng có số máy 55P1-194288, số khung: RLCE55P10CY194278; Trả lại anh Nguyễn Xuân F 01 biển số xe 34B2-871.26 (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 24/11/2021).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Quang H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/12/2021); Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND thành phố Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT- Công an TP Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhan |