vanban.org

Bản án 169/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kiều A và ông Nguyễn Văn H.

Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 02/01/2018 cho ông Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kiều A và ông Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY XUYÊN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2021/HNGĐ-ST.
Ngày: 20 /8 /2021.
V/v “Ly hôn, trA chấp về nuôi
con”.

NHÂN DA

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tám.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Tình và ông Nguyễn Chí Thành.

- T1 ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Luông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Sinh - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 70/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2021 về “Ly hôn, trA chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2021, quyết định hoãn phiên tòa số 16/2021/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều A, sinh năm 1998 Địa chỉ: Thôn TĐ, xã DT, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn CS, xã DT2, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện lập ngày 22 tháng 3 năm 2021, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại UBND xã DT2. Vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng nóng giận, thường xuyên xảy ra bạo lực gia đình và cải vả. Ông H không lo làm ăn, chơi bài bạc gây ra nợ nần. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà đề nghị được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 02/01/2018 và Nguyễn A T1, sinh ngày 13/10/2000. Bà A có nguyện vọng nuôi cháu T1, giao cháu T cho ông H nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung vợ chồng: Không yêu cầu giải quyết.

Ngày 05/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý số 70/2021/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2021 cho ông Nguyễn Văn H bằng hình thức niêm yết công khai theo đúng trình tự thủ tục.

Hết thời hạn 15 ngày theo quy định tại điều 199 BLTTDS ông Nguyễn Văn H không có văn bản trả lời ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà A cũng như văn bản xin gia hạn thời hạn trả lời theo quy định.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, mặc dù ông H có mặt tại địa phương và Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông Nguyễn Văn H không đến Tòa án tham gia các phiên hòa giải nên vụ án không thể tiến hành hòa giải theo quy định.

Vì vậy Tòa án căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng các thủ tục tố tụng, xác định tư cách tố tụng theo đúng quy định; thời hạn chuẩn bị xét xử, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo đúng thời gian. Hội đồng xét xử thực hiện các hoạt động tố tụng tại phiên tòa theo đúng quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng, bị đơn không tham gia, không chấp hành các quy định pháp luật về tố tụng. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử cho bà A ly hôn với ông H. Giao cháu Nguyễn Hoàng T cho ông Nguyễn Văn H nuôi dưỡng và giao cháu và Nguyễn A T1 cho bà A nuôi dưỡng.

Các tài liệu chứng cứ của vụ án gồm:

- Đơn khởi kiện, bản tự khai của bà A

- Bản chính giấy đăng ký kết hôn, 2 bản sao giấy khai sinh

- Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng.

- Bản sao giấy chứng minh nhân dân, bản sao sổ hộ khẩu.

Các tình tiết sự kiện các bên không thống nhất và ý kiến của các bên:

Bà Nguyễn Thị Kiều A yêu cầu ly hôn. Ông Nguyễn Văn H không trả lời ý kiến và tham gia giải quyết vụ án theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều A và ông Nguyễn Văn H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã DT2 vào năm 2017 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Vì vậy giữa ông bà phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân theo bà A trình bày là do vợ chồng T1ờng xuyên cải vả, bạo lực gia đình. Vợ chồng không còn chung sống với nhau đã gần 6 tháng nay. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H vẫn cố tình trốn tránh, không tham dự các buổi hòa giải thể hiện thái độ xem T1ờng pháp luật, không có thiện chí duy trì quan hệ hôn nhân.

Tại phiên tòa hôm nay bà A vẫn giữ nguyên nguyện vọng xin ly hôn và thừa nhận không còn tình cảm với ông H và không còn duy trì quan hệ vợ chồng. Xét thấy bà A và ông H đã có hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân của ông bà rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kiều A.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 02/01/2018 và Nguyễn A T1, sinh ngày 13/10/2000. Cháu T hiện đang ở với ông H, cháu T1 đang ở với bà A. Bà A đang làm công nhân và có nguyện vọng nuôi cháu Nguyễn A T1 nên giao cháu Nguyễn Hoàng T cho ông H, giao cháu Nguyễn A T1 cho bà A nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện nuôi con của 2 người và đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Áp dụng Khoản 4 Điều 147 BLTTDS và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án bà Nguyễn Thị Kiều A phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban T1ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kiều A và ông Nguyễn Văn H.

2. Về nuôi con chung:

Giao cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 02/01/2018 cho ông Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Giao cháu Nguyễn A T1, sinh ngày 13/10/2000 cho bà Nguyễn Thị Kiều A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Nguyễn Thị Kiều A phải chịu được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) bà A đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 4903 ngày 22/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên.

4. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kiều A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày .../8/2021). Ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết hợp lệ bản án

Trường hợp Quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ