vanban.org

Bản án 169/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 22/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2020/HS-ST
Ngày 22 – 9 – 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Mỹ Hương

Ông Võ Sĩ Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng – Cán bộ Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Dương Phi Cát – Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 178/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 740/HSST-QĐ ngày 03 tháng 9 năm 2020, đối với bị cáo:

H và tên: Hồng Vũ L; giới tính: Nam; sinh năm: 1988; Nơi sinh: Cà Mau nơi cư trú: ấp 4, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; nghề nghiệp: Không; trình độ h c vấn: 9/12; con ông Hồng Quốc T và bà Vũ Thị Kim P. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/3/2020 đến ngày 03/4/2020 chuyển sang tạm giam cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI UNG V N:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau: Bị cáo Hồng Vũ L b t đầu sử dụng ma túy từ khoảng tháng 01 năm 2020. Vào ngày 29/3/2020, bị cáo đang ở thành phố B, tỉnh Đồng Nai, do có ý định về huyện U, tỉnh Cà Mau để đi ghe biển. Cần ma túy sử dụng trong thời gian đi biển nên bị cáo liên hệ với người bạn tên B (không rõ h tên thật và địa chỉ cụ thể) để mua ma túy. Sau đó, có một người thanh niên, mà bị cáo không rõ h tên và địa chỉ đã liên hệ với bị cáo để bán ma túy, bị cáo mua 6.000.000đ tiền ma túy. Người thanh niên hẹn bị cáo ở khu vực gần sân vận động tỉnh Đồng Nai giao ma túy. Do không đủ tiền nên bị cáo chỉ đưa cho người thanh niên số tiền 5.700.000đ và người thanh niên giao cho bị cáo 02 (Hai) gói thuốc hiệu JET bên trong có chứa ma túy. Sau khi kiểm tra số ma túy vừa mua được, bị cáo cất giấu vào trong cặp da màu đen. Hiện tại bị cáo không nhớ số điện thoại của B và người thanh niên bán ma túy cho bị cáo.

Đến chiều ngày 30/3/2020, bị cáo mang cặp da màu đen bên trong có chứa ma túy rồi đón xe khách để về Cà Mau. Bị cáo đến Cà Mau vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 31/3/2020, bị cáo thuê anh Dương Văn T, sinh năm 1982, là người chạy xe mô tô khách chở bị cáo đi đến xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau với giá là 150.000đ. Khi anh T chở bị cáo đi đến khu vực khóm 5, phường 1, thành phố C, tỉnh Cà Mau, thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Tại đây, Công an đã b t quả tang việc bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy và lập biên bản quả tang, thu giữ 01 (Một) cặp da màu đen, bên trong có chứa: 01 (Một) bóp da màu nâu, bên trong có 01 (Một) bịch nylon có chứa chất bột mịn màu tr ng; 01 (Một) hộp thuốc JET, bên trong có chứa 07 (Bảy) bịch nylon bên trong có chứa tinh thể màu tr ng; 01 (Một) gói thuốc JET không có n p, bên trong có chứa 01 (Một) bịch nylon bên trong có chứa tinh thể màu tr ng; 01 (Một) cây nỏ thủy tinh; 01 (Một) điện thoại di động hiệu ViVo màu hồng – tr ng (đã qua sử dụng) có g n sim số 0916.343.971; Tiền Việt Nam 1.000.000đ (Một triệu đồng).

Tiến hành thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy đối với Hồng Vũ L, kết quả thể hiện bị cáo L có sử dụng chất ma túy.

Theo bản Kết luận giám định số 77/KLGĐ-PC09 ngày 01/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận:

- Mẫu chất bột mịn màu tr ng bên trong b c lylon được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M.01/2020, thu giữ ngày 31/3/2020 gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2988gam, loại Methamphetamine.

- Mẫu tinh thể màu tr ng bên trong 07 (Bảy) b c nylon được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M.02/2020, thu giữ ngày 31/3/2020 gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,9511gam, loại Methamphetamine.

- Mẫu tinh thể màu tr ng bên trong b c nylon được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M.03/2020, thu giữ ngày 31/3/2020 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 9,9875gam, loại Methamphetamine. (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ).

Hoàn lại đối tượng giám định được niêm phong trong phong bì hoàn mẫu số 77/GĐH-PC09 ngày 01/4/2020, sau khi trích giám định và không lưu.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận phù hợp với các tài liệu và chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra xác định được: 01 (Một) cặp da màu đen và 01 (Một) bóp da màu nâu là tài sản của bị cáo và bị cáo dùng làm phương tiện cất giấu ma túy; 01 (Một) cây nỏ thủy tinh là phương tiện mà bị cáo dùng để sử dụng ma túy; 01 (Một) điện thoại di động hiệu ViVo màu hồng – tr ng (đã qua sử dụng) có g n sim số 0916.343.971 là phương tiện bị cáo dùng liên lạc mua ma túy. Riêng số tiền Việt Nam 1.000.000đ (Một triệu đồng) là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên ngày 01/4/2020, Cơ quan điều tra đã trao trả số tiền trên lại cho bị cáo. Đối với các vật chứng còn lại và mẫu vật được hoàn lại sau khi giám định số 77/GĐH-PC09 ngày 01/4/2020 đã được nhập kho vật chứng chờ xử lý theo quy định.

Tại cáo trạng số: 171/CT-VKS ngày 27/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố bị cáo Hồng Vũ Linh về tội“Tàng tr trái ph p chất ma túy theo điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát bảo vệ toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo Hồng Vũ Linh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Hồng Vũ L phạm tội “Tàng tr trái ph p chất ma túy , xử phạt bị cáo Hồng Vũ Linh từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù. Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy bao gói hoàn lại sau giám định. Tịch thu, phát mãi sung quỹ nhà nước 01 (một) cặp da màu đen; 01 (một) bóp da màu nâu; 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu hồng – tr ng (đã qua sử dụng) có g n sim số 0916.343.971 và 01 (một) cây nỏ thủy tinh.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NH N Đ NH CỦA T A N:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã có hành vi, quyết định tố tụng đúng quy định.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Hồng Vũ L thừa nhận, vào lúc 03 giờ 45 phút ngày 31/3/2020, tại khu vực khóm 5, phường 1, thành phố C, tỉnh Cà Mau, Công an tỉnh Cà Mau kết hợp Công an thành phố Cà Mau tỉnh Cà Mau b t quả tang bị cáo Hồng Vũ L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với tổng khối lượng là 12,2374gam nhằm mục đích sử dụng. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với l i cố ý trực tiếp. Có đủ căn cứ kh ng định hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đúng như Viện kiểm sát truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý, góp phần gây ra các tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội, cần phải áp dụng mức hình phạt bị cáo mức án nghiêm kh c, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra cũng là để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thái độ của bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[3] Về tang vật của vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Lượng Ma túy hoàn lại sau giám định còn lại khối lượng 11,5240 gam, cùng bao gói có ký hiệu số 77/GĐH-PC09 ngày 01/4/2020. Đây là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với tài sản của bị cáo đã thu giữ gồm: 01 (Một) cặp da màu đen và 01 (Một) bóp da màu nâu, dùng làm phương tiện cất giấu ma túy; 01 (Một) cây nỏ thủy tinh là phương tiện mà bị cáo dùng để sử dụng ma túy; 01 (Một) điện thoại di động hiệu ViVo màu hồng – tr ng (đã qua sử dụng) có g n sim số 0916.343.971 bị cáo dùng vào việc liên hệ để mua ma túy, cần tịch thu phát mãi sung quỹ nhà nước. Các tang vật hiện đang do Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cà Mau quản lý theo biên bản giao nhận ngày 27/8/2020.

Đối với số tiền 1.000.000đ là tiền của cá nhân bị cáo không liên quan đến việc tàng trữ ma túy, Cơ quan Công an thành phố Cà Mau đã trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[4] Đối với người tên B và người bán ma túy cho bị cáo, hiện bị cáo không xác định được h tên và địa chỉ đầy đủ, cơ quan điều tra không làm việc được. Giao cơ quan điều tra tiếp tục điều tra có căn cứ xử lý sau là phù hợp.

Đối với Dương Văn T là người chạy xe khách, không biết bị cáo tàng trữ ma túy, đã chở bị cáo về huyện U, tỉnh Cà Mau nên không để căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh T là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 106, 136, 331, 333 của của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Hồng Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hồng Vũ L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ ngày 31/3/2020.

Về tang vật đã thu giữ, hiện đang do Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cà Mau quản lý theo biên bản giao nhận ngày 27/8/2020 được xử lý:

Tịch thu tiêu hủy 11,5240gam Methaphetamine cùng bao gói được hoàn lại sau giám định, trong phong bì niêm phong ký hiệu số 77/GĐH-PC09 ngày 01/4/2020.

Tịch thu, phát mãi, sung quỹ nhà nước các tài sản: 01 (một) cặp da màu đen; 01 (một) bóp da màu nâu; 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu hồng – tr ng (đã qua sử dụng) có g n sim số 0916.343.971 và 01 (một) cây nỏ thủy tinh.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ hai tr m ngàn đ ng , bị cáo phải nộp (chưa nộp).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ