- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Đức Y phạm tội “Buôn bán hàng giả”. - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả (điều 192 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Đức Y phạm tội “Buôn bán hàng giả”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 169/2020/HS-ST Ngày 10 - 11 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Sơn.
2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Bá Hùng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Lâm Đức Y; sinh ngày 26 tháng 12 năm 1991 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú: Ấp Bình Quới, xã Phước Bình, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn C và bà Nguyễn Thị D; bị cáo có vợ và chưa có con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/7/2020, đến ngày 17/7/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cư trú gần khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia nên Lâm Đức Y có quen biết với đối tượng tên N người Campuchia. N rủ Y tham gia mua bán thuốc lá giả hiệu 555 nhãn Việt Nam thì Y đồng ý mua với giá 12.000đồng/bao, bán lại với giá 13.000đồng/bao để hưởng lợi. Người mua thuốc lá sẽ do N giới thiệu, khi nào Y bán được thuốc lá thì về trả tiền lại cho N.
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 09/7/2020, Y thuê xe ô tô biển số: 61A - 667.48 và điều khiển đến cửa khẩu Thomo mua của N 5.000 bao thuốc lá, được chứa trong 05 thùng, mỗi thùng 10 cây thuốc. N cho Y số điện thoại của đối tượng tên M là người sẽ tiêu thụ thuốc lá cho Y. Sau khi mua thuốc lá của N, Y gọi điện thoại cho M, được M hướng dẫn đường đi đến khu vực ngã ba Hồng Châu rồi quẹo phải, M sẽ ra đón và dẫn Y đi bán thuốc lá. Khi Y điều khiển xe ô tô biển số: 61A - 667.48 lưu thông trên Quốc lộ 22 thuộc ấp Tân Lập, xã Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang vào lúc 15 giờ 30 phút cùng ngày.
Tại Cơ quan điều tra, Lâm Đức Y khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Kết luận định giá số: 125/KL-HĐĐGTS ngày 15 tháng 7 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 5.000 bao thuốc lá hiệu 555 nhãn Việt Nam tại thời điểm ngày 09/7/2020 trị giá 140.000.000 đồng.
Tại Thông báo kết quả giám định số: 0091/N3.20/TĐ ngày 20 tháng 8 năm 2020 của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng 3 kết luận: Mẫu giám định thuốc lá 555 có kết quả kiểm tra bao bì, ghi nhãn, ngoại quan và kết quả thử nghiệm các chỉ tiêu khác với kết quả kiểm tra, thử nghiệm tương ứng của mẫu so sánh.
Tại Công văn số: 45/HHTL ngày 10 tháng 7 năm 2020 về việc thẩm định thuốc lá 555 giả của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam xác nhận: Sản phẩm thuốc lá nhãn hiệu 555 do Công an huyện Hóc Môn gửi kèm Văn bản số: 1838/CSĐT-KT ngày 09/7/2020 không phải là sản phẩm do Công ty Liên doanh VINA-BAT sản xuất và là sản phẩm giả mạo nhãn hiệu đã được đăng ký tại Giấy chứng nhận nhãn hiệu số 280920 cấp ngày 04/5/2017 của Công ty Liên doanh VINA-BAT.
Tại Bản cáo trạng số: 179/CT-VKS-HS ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lâm Đức Y ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hố Chí Minh để xét xử về tội “Buôn bán hàng giả” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Hóc Môn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 192, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lâm Đức Y từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 5.000 bao thuốc lá giả hiệu 555 nhãn Việt Nam, sau giám định còn lại 4.960 bao thuộc loại vật cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy; tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động hiệu Nokia, đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Đức Y thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày bổ sung và không có ý kiến tranh luận với nội dung truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua phần hỏi và tranh tụng công khai, bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở chứng minh vào chiều ngày 09/7/2020, bị cáo Lâm Đức Y có hành vi mua 5.000 bao thuốc lá giả hiệu 555 nhãn Việt Nam để bán lại nhằm mục đích hưởng chênh lệch và bị Công an bắt quả tang tại khu vực ngã ba Hồng Châu thuộc ấp Tân Lập, xã Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Tổng giá trị 5.000 bao thuốc lá hiệu 555 nhãn Việt Nam qua định giá là 140.000.000 đồng. Do đó, Bản cáo trạng số: 179/CT-VKS-HS ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lâm Đức Y về tội “Mua bán hàng giả” theo điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 193, 194 và 195 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng hoặc dưới 30.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các Điều 188, 189, 190, 191, 193, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”
Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, mục đích phạm tội của bị cáo là lừa dối người tiêu dùng do đó đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong quản lý thị trường, quyền được bảo hộ của các doanh nghiệp, nhà sản xuất kinh doanh, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công với cách mạng (cậu ruột của bị cáo là liệt sĩ); hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Phước Bình, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nêu ở trên. Căn cứ vào Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để cho bị cáo tự thân học tập, cải tạo, giáo dục tại địa phương. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn cho bị cáo Lâm Đức Y được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là phù hợp đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.
Đối với các đối tượng tên N và M, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau là phù hợp nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 5.000 bao thuốc lá giả hiệu 555 nhãn Việt Nam, sau giám định còn lại 4.960 bao thuộc loại vật cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 02 điện thoại di động hiệu Nokia, đã qua sử dụng, do có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Đối với xe ô tô biển số: 61A – 667.48, số khung: ACV308001695, số máy: 2AZ 1156319 và Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Trần Hoàng T. Qua xác minh do ông Trần Hoàng T đứng tên chủ sở hữu, ông T khai cho ông Ngô Minh P thuê xe với giá 8.000.000 đồng/tháng, ông P cho ông Nguyễn Minh C thuê lại với giá 14.000.000 đồng/tháng, bị cáo đã thuê xe của ông C để làm phương tiện chở thuốc lá giả. Do ông T, ông P và ông C không biết về việc bị cáo thuê xe để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả lại xe cho ông Trần Hoàng T là phù hợp nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 192, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Tuyên bố bị cáo Lâm Đức Y phạm tội “Buôn bán hàng giả”.
Xử phạt bị cáo Lâm Đức Y 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 10/11/2020.
Giao bị cáo Lâm Đức Y cho Ủy ban nhân dân xã Phước Bình, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lâm Đức Y cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo Lâm Đức Y thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
(Bị cáo Lâm Đức Y đã được giải thích về chế định án treo)
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 4.960 (bốn nghìn chín trăm sáu mươi) bao thuốc lá giả hiệu 555 nhãn Việt Nam, sau giám định còn lại.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 02 (hai) điện thoại di động hiệu Nokia, đã qua sử dụng.
Vật chứng của vụ án hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05 tháng 11 năm 2020.
3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí: Buộc bị cáo Lâm Đức Y phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP.Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Hóc Môn; - Cơ quan điều tra Công an H. Hóc Môn; - Chi cục Thi hành án DS H. Hóc Môn; - Nhà tạm giữ Công an H. Hóc Môn; - UBND xã Phước Bình, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Hồng Hải |