vanban.org

Bản án 169/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 09/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn D tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 169/2019/HSST
Ngày 09/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.

Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Thanh Tâm và bà Đặng Thị Việt Hoài.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.

Đại diện viện kiểm sá t nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình , Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình , tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩ m công khai vụ á n hì nh sự thụ lý số 165/2019/HSST ngà y 29 tháng 8 năm 2019, theo quyế t đị nh đưa vụ á n ra xé t xử số : 172/2019/QĐXX-ST ngà y 27tháng 9 năm 2019 đố i vớ i:

Bị cáo: Lê Văn D; Sinh ngày 05/5/1984 tại Thái Bình.

Nơi cư trú: số nhà 13, ngõ 196, tổ 19, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Bố đẻ: ông Lê Xuân T (đã chết). Mẹ đẻ: bà Tạ Thị B.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Quyết định số 106/QĐ-XPVPHC ngày 13/02/2010, Công an thành phố Thái Bình xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi Đánh bạc.

- Quyết định số 5252/QĐ-CT ngày 20/12/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội thành phố thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 06/12/2012.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/6/2019 đến ngày 16/6/2019 chuyển tạm giam có mặ t tại phiên tòa.

NỘ I DUNG VỤ Á N

Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 5 giờ 20 phút ngày 13/6/2019, tại khu vực cầu Cống Trắng thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Bình. Với mục đích đi mua ma túy về sử dụng bị cáo (D) gặp một người phụ nữ đi xe đạp điện mặc quần áo ngủ đeo khẩu trang, không biết tên địa chỉ, bị cáo hỏi người này: “Chị có ma túy không bán cho em 200.000 đồng”, người này trả lời: “Có, đưa tiền đây”, bị cáo đưa cho người này số tiền 200.000 đồng, người này đưa cho bị cáo 01 gói nhỏ bằng giấy trắng có dòng kẻ bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, bị cáo cất gói ma túy trên vào túi quần bò bên phải phía trước đang mặc sau đó đi xe ôm đến khu vực đường Nguyễn Tông Quai thuộc tổ 31, phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình để tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an thành phố yêu cầu kiểm tra bị cáo. Trước sự chứng kiến của người làm chứng là ông Nguyễn Văn L và ông Đào Quang H, bị cáo đã tự giác lấy từ túi quần bò bên phải phía trước đang mặc trên người 01 gói nhỏ bằng giấy trắng có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng dạng cục, bị cáo khai đó là hêrôin của bị cáo mua về mục đích để sử dụng, tổ công tác niêm phong gói ma túy của bị cáo. Kiểm tra người bị cáo không phát hiện thu giữ gì. Sau đó tổ công tác đưa bị cáo và mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình làm việc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng.

Kết luận giám định số 247/KLGĐ –PC09 ngày 13/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục trong phong bì niêm phong ghi: “Vật chứng thu giữ của Lê Văn D, sinh năm 1984, ĐKHKTT tại tổ 19, phường T, thành phố T ngày 13/6/2019” là ma túy, loại Hêrôin có trọng lượng 0,1460 gam (không phẩy một nghìn bốn trăm sáu mươi gam).

Tại cáo trạng số 170/CT-VKSTP ngày 27 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình quyết định truy tố bị cáo Lê Văn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diệnViện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt: Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng các Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ còn lại sau khi giám định.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không trình bày lời bào chữa cũng như không trình bày ý kiến tranh luận gì, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c tranh tụng tại phiên tòa, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đúng quy định pháp luật, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì.

[2] Trong quá trình điều tra bị cáo Lê Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến ông Nguyễn Văn L và ông Đào Quang H, biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, sự việc và đồ vật. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định như sau: Khoảng 5 giờ 45 phút ngày 13/6/2019, tại khu vực đường Nguyễn Tông Quai thuộc tổ 31 phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình. Bị cáo Lê Văn D có hành vi cất giấu trên người 01 gói nhỏ ma túy, loại hêrôin, có khối lượng 0,1460 gam (không phẩy một nghìn bốn trăm sáu mươi gam) để sử dụng cho bản thân đã bị Công an thành phố Thái Bình phát hiện bắt quả tang.

[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, tàng trữ chất ma túy không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép và loại ma túy, khối lượng ma túy tương ứng với quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249: “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...;

c) Hêrôin, ....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn D phạm tội “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”

[4] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, vi phạm pháp luật hình sự. Bị cáo có nhân thân không tốt đã nhiều lần bị xử lý hành chính đã được xóa về hành vi đánh bạc và sử dụng ma túy.Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo là phạt tù có thời hạn buộc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6] Bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Bị cáo khai mua ma túy của một người phụ nữ không biết tên, tuổi địa chỉ. Vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý đối với người bán ma túy.

[8] Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾ T ĐỊ NH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điề u 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luậ t t ố tụng hì nh sự

; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chấ t ma tú y”.

2. Về hình phạt: Xử phạ t bị cá o Lê Văn D 01(một ) năm tù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y 13/6/2019. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vậ t chứ ng: Tịch thu tiêu hủ y toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo Lê Văn D còn lại sau giám định.

(Vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an thành phố Thái Bình và cơ quan Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình.)

4. Về á n phí : Buộ c bị cá o Lê Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩ m.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thờ i hạ n 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 09/10/2019. Nơi nhậ n:

Cỡ chữ