- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Cao Thi D bị xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Thị D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2019/HSST Ngày: 14/10/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Đức.
Ông Doãn Đức Hùng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 169/2019/TLST-HS ngày 16/9/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2019/QĐXXST-HS ngày 23/9/2019 và quyết định tạm ngừng phiên tòa số 79/2019/HSST-QĐ ngày 08/10/2019, đối với bị cáo:
Cao Thị D, sinh năm: 1996 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên Chúa.
Trình độ học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Không.
Con ông Cao Văn Q, sinh năm: 1967 và bà Mai Thị H, sinh năm: 1971. Bị cáo chưa có chồng con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị giam giữ từ ngày 12/6/2019.
Người làm chứng:
1. Anh Trần Công G, sinh năm: 1993.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
2. Bà Mai Thị H, sinh năm: 1971.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(bị cáo, bà H có mặt, anh G vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 15 phút ngày 12/6/2019 tại nhà của Cao Thị D địa chỉ số 78/1G, ấp T, xã H, huyện T, Công an huyện Trảng Bom phối hợp Công an xã H tiến hành bắt quả tang Cao Thị D đang bán trái phép 01 bịch ma túy đá cho Trần Công Giang với giá 200.000 đồng.
Tiến hành kiểm tra trong nhà D phát hiện trong phòng ngủ của D có 01 chiếc hộp nhựa màu đen bên trong có 01 bịch nylong hàn kín chứa tinh thể màu trắng.
Vật chứng thu giữ:
+ 01 gói ma túy đã niêm phong có chữ ký của Cao Thị D, Trần Công G và dấu tròn màu đỏ của Công an xã H (ký hiệu M1).
+ 01 gói ny long hàn kín, chứa tinh thể màu trắng đã niêm phong có chữ ký của Cao Thị D và dấu tròn màu đỏ của Công an xã H (ký hiệu M2).
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
+ 01 điện thoại di động Iphone 6s, 01 sim.
+ 200.000 đồng thu giữ của D.
Theo kết quả giám định ma túy số: 573/PC09-GĐMT ngày 19/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
+ Gói ma túy ký hiệu M1 gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 0,0366 gam, loại Methamphetamine.
+ Gói ma túy ký hiệu M2 gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 1,5580 gam, loại Methamphetamine.
Ngày 20/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Cao Thị D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” để điều tra làm rõ hành vi phạm tội.
Cao Thị D là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2017, để có tiền tiêu xài nên từ tháng 5/2019 D thường mua ma túy của đối tượng tên Lâm “Taxi” về để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện kiếm lời. Khoảng 23 giờ ngày 11/6/2019, D bàn bạc với đối tượng tên A (không rõ lai lịch, địa chỉ) góp 1.500.000 đồng mua ma túy sử dụng và bán (trong đó D góp 800.000 đồng, A góp 700.000 đồng). D dùng điện thoại Iphone 6s sim số 0378.433.623 liên lạc với L “Taxi” hỏi mua ma túy, A đến gặp L tại khu vực đường ray xe lửa tại ấp P, xã B để mua ma túy. Sau khi mua được ma túy D và An lấy một ít ra sử dụng, còn lại D cất vào trong chiếc hộp màu đen để trong phòng ngủ của D để bán. Đến lúc 12 giờ 15 ngày 12/6/2019, khi D đang bán 01 gói ma túy đá cho Trần Công G thì bị Công an bắt quả tang như đã nêu trên. Trước đó, vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26/5/2019, D đã bán 01 gói ma túy đá cho Giang với giá là 200.000 đồng tại nhà của D.
Ngoài ra, bị cáo khai nhận còn bán ma túy cho một số đối tượng khác nhưng không rõ nhân thân lai lịch.
Tại bản Cáo trạng số 185/CT-VKS-TB ngày 12/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Cao Thị D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong sau giám định số 573/PC09-GĐMT ngày 19/6/2019, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 sim điện thoại.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6s của bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 200.000 đồng thu lợi bất chính mà có đề nghị Tòa tuyên tịch thu sung công.
Đối tượng tên L “Taxi” đã bán ma túy cho bị cáo và đối tượng tên A góp tiền chung với bị cáo mua ma túy do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không có cơ sở điều tra, xử lý.
Đối với Trần Công G có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định xử phạt hành chính.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Cao Thị D từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
- Bị cáo Cao Thị D không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội D tại Cáo trạng đã nêu. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
[1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về sự vắng mặt của người làm chứng:
Anh Trần Công G được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt, tuy nhiên đã có lời khai trong quá trình điều tra, không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.
Về trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu được và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đúng như hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước tòa, cho thấy bị cáo đã có hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26/5/2019, tại nhà của Cao Thị D địa chỉ số 78/1G, ấp T, xã H, huyện T, D đã bán 01 gói ma túy dạng đá cho Trần Công G với giá 200.000 đồng. Đến lúc 12 giờ 30 phút ngày 12/6/2019, khi D đang tiếp tục bán 0,0366 gam ma túy loại Methamphetamine với giá 200.000 đồng cho Trần Công Giang tại nhà của D thì bị lực lượng Công an huyện Trảng Bom phối hợp Công an xã Hố Nai 3 bắt quả tang, ngoài ra D còn tàng trữ trong phòng của D 1,5580 gam ma túy loại Methamphetamine để bán cho các đối tượng nghiện.
Như vậy, có đủ căn cứ và cơ sở để xác định hành vi của bị cáo Cao Thị D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, trực tiếp là hoạt động tàng trữ trái phép và xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân dẫn tới nhiều hành vi phạm tội khác nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm mới đủ răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức án cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì có đóng dấu niêm phong số 573/PC09-GĐMT ngày 19/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 sim điện thoại.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 6s của bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 200.000 đồng thu lợi bất chính mà có.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Cao Thị D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Cao Thị D 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2019.
2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì có đóng dấu niêm phong số 573/PC09-GĐMT ngày 19/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 sim điện thoại 0378433623.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 6s của bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 200.000 đồng thu lợi bất chính mà có.
Tiền và vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2019 và biên lai thu tiền số 01140 ngày 07/10/2019.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Cao Thị D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh, VKSND huyện Trảng Bom; - Chi cục THADS huyện Trảng Bom; - Công an huyện Trảng Bom; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hƣơng |