- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiều Thị N - Nguyễn Minh V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kiều Thị N đối với anh Nguyễn Minh V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 169/2019/HNGĐ-ST Ngày: 29-11-2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nguyệt Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thụy Vân Hà;
Bà Nguyễn Ngọc Diệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thƣơng – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 913/2019/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 168/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2019/QĐST – HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2019, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Kiều Thị N, sinh năm 1991; thƣờng trú: Thôn N, xã N, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định; tạm trú : Số 14/12/9, khu phố B, phƣờng A, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh V, sinh năm 1989; thƣờng trú: Thôn N, xã N, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định; tạm trú : Số 14/12/9, khu phố B, phƣờng , thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; địa chỉ: 58/9/20, đƣờng số 9, khu phố 1, phƣờng L, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 8 năm 2019, lờ i khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chi ̣ Kiều Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị Kiều Thị N và anh Nguyễn Minh V tƣ̣ nguyện chung sống, tổ chƣ́ c đám cƣớ i và đăng ký kết hôn theo giấ y chƣ́ ng nhâ ̣n kết hôn số 74/2014, quyển số 01/2014 tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định vào ngày 24 tháng 9 năm 2014.
Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có sự đồng cảm, thƣờng xuyên cãi nhau, mỗi ngƣời có một cuộc sống riêng không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn. Chị N và anh V sống ly thân từ tháng 02 năm 2019 cho đến nay. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng với anh V không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh V.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hải B, sinh ngày 07/4/2015 và Nguyễn Huy K, sinh ngày 27/7/2017. Chị N yêu cầu nuôi dƣỡng cả hai con Nguyễn Hải B và Nguyễn Huy K, không yêu cầu anh V cấp dƣỡng nuôi con. Chị N cung cấp cho Tòa án Hợp đồng lao động và sao kê tài khoản ngân hàng, chứng minh mức thu nhập bình quân hàng tháng từ 14.000.000 đồng đến 19.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 13/9/2019 và trong quá trinh tố tu ̣ng , bị đơn anh
̀ Nguyễn Minh V trình bày: Thống nhất với phần trình bày của chị N về thời gian đăng ký kết hôn, cuộc sống chung vợ chồng và những mâu thuẫn đã xảy ra giữa hai vợ chồng. Anh V đồng ý ly hôn chị N.
Về con chung anh V thống nhất vợ chồng có hai con chung Nguyễn Hải B, sinh ngày 07/4/2015 và Nguyễn Huy K, sinh ngày 27/7/2017. Anh V đề nghị đƣợc nuôi dƣỡng con Nguyễn Hải B, đồng ý giao con chung Nguyễn Huy K cho chị N nuôi dƣỡng, không ai có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghia vu ̣̃
chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ngày 01/10/2019, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống giữa chị Kiều Thị N và anh Nguyễn Minh V tại địa phƣơng và đƣợc bà Bùi Thị Lƣơng H – Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng An, thị xã Dĩ An cung cấp quá trình chị Kiều Thị N và anh Nguyễn Minh Vƣ sinh sống tại địa phƣơng chính quyền không nhận đƣợc đơn thƣ hay khiếu nại gì về việc anh chị có xảy ra mâu thuẫn, cũng nhƣ công việc, thu nhập hai quá trình nuôi dạy con cái của anh chị.
- Tại bản tự khai ngày 01/10/2019, người làm chứng bà Nguyễn Thị H trình bày: Quá trình chị N và anh V sống chung đều ở nhà bà H. Thời gian chung sống, anh chị có lúc cãi nhau, anh V có bỏ nhà đi. Việc chăm sóc các con của chị N đều do bà H phụ giúp. Nay anh V yêu cầu đƣợc nuôi con Nguyễn Hải B bà H thấy không phù hợp vì từ nhỏ cả hai cháu đều sống cùng và do bà H phụ giúp nuôi dƣỡng, anh V thì chỗ ở, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định. Nếu giao cháu Nguyễn Hải B cho anh V nuôi dƣỡng sẽ đƣa về nhà nội ở quên sẽ gặp khó khăn cho chị N trong việc thăm nom, chăm sóc con chung.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm đã bảo đảm tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tu ̣ng dân sự. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Kiều Thị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Minh V đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt hai lần liên tiếp không có lý do chính đáng. Căn cƣ́ các điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc và Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Chị Kiều Thị N và anh Nguyễn Minh V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 74/2014, quyển số 01/2014 tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định vào ngày 24 tháng 9 năm 2014 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình tố tụng, cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận vợ chồng chỉ hạnh phúc đƣợc thời gian đầu. Thời gian sau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, mỗi ngƣời có cuộc sống riêng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Cả hai đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2019. Vì cả hai vợ chồng không còn yêu thƣơng nhau nêu đều thống nhất ly hôn.
[3] Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Chị Kiều Thị N và anh Nguyễn Minh V đều thừa nhận quan hệ hôn nhân của hai ngƣời có những mâu thuẫn nhỏ dẫn đến cãi nhau, hiện cả hai không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nhƣ vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Kiều Thị N và anh Nguyễn Minh V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Chị N yêu cầu ly hôn và anh V cũng đồng ý. Tại phiên tòa, cả chị N và anh V đều vắng mặt, không ai trình bày thêm hay thay đổi ý kiến của mình, vì vậy yêu cầu ly hôn của chị Kiều Thị N là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung Nguyễn Hải B, sinh ngày 07/4/2015 và Nguyễn Huy K, sinh ngày 27/7/2017. Khi ly hôn, chị N yêu cầu nuôi cả hai con và chứng minh mức thu nhập trung bình hàng tháng của chị N từ 12.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng. Anh V yêu cầu đƣợc nuôi con Nguyễn Hải B và chứng minh mức thu nhập trung bình hàng tháng từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nhƣng do mới xin đƣợc việc làm nên thu nhập chƣa ổn định. Xét quá trình vợ chồng anh chị chung sống đều ở cùng cha mẹ chị N. Lời khai của bà H là mẹ của chị N cũng cho thấy về thực tế quá trình chị N, anh V kết hôn đều sinh sống cùng gia đình vợ. Các con của chị N đều do gia đình vợ hỗ trợ cùng nuôi dƣỡng, chăm sóc. Đối với cháu Nguyễn Hải B sinh ngày 07/4/2015 mới hơn 4 tuổi cần đƣợc sự quan tâm, chăm sóc của mẹ và bà để tạo sự phát triển ổn định, bình thƣờng cho cháu. Từ nhận định trên, xét yêu cầu đƣợc nuôi cả hai con của chị N là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
[5] Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhâ ̣n sƣ̣ tƣ̣ nguyê ̣n của chi ̣ Kiều Thị N không yêu cầu anh Nguyễn Minh V cấp dƣỡng nuôi hai con Nguyễn Hải B và Nguyễn Huy K.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Đƣơng sự không có tranh chấp nên Tòa án không giải quyết.
[7] Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Kiều Thị N phải chịu án phí theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 271, 273, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kiều Thị N đối với anh Nguyễn Minh V.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Kiều Thị N đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Minh V (theo giấy chứng nhận kết hôn số 74/2014, quyển số 01/2014 ngày 24/9/2014 tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định cấp).
- Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Hải B, sinh ngày 07/4/2015 và Nguyễn Huy K, sinh ngày 27/7/2017 cho chị Kiều Thị N trƣ̣c tiếp nuôi dƣỡng . Ghi nhâ ̣n sƣ̣ tƣ̣ nguyê ̣n của chi ̣ Kiều Thị N không yêu cầu anh Nguyễn Minh V cấp dƣỡng nuôi con.
Sau ly hôn, anh Nguyễn Minh V có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, chị Kiều Thị N không có quyền cản trở anh Nguyễn Minh V thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đƣơng sự không có tranh chấp nên Tòa án không giải quyết.
2.Về án phí dân sƣ̣ sơ thẩm: Chị Kiều Thị N chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí ly hôn. Khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0029242 ngày 10/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Binh Dƣơng;̀ - VKSND thị xã Dĩ An; - Chi cục THA DS thị xã Dĩ An; - UBND xã N, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định; - Các đƣơng sự; - Lƣu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phan Thị Nguyệt Ánh |