- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trung Th bị xét xử về tội "tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? [1].Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung Th phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự n¨m; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2018/HSST Ngày: 22/05/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Thái
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Kim Hoa
2. Bà Nguyễn Thị Mai Phương
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: ông Lưu Văn Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 05 năm 2018; tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 166/2018/HSST ngày 04 tháng 05 năm 2018. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2018/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 05 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Trung Th; tên gọi khác: không; sinh năm 1972; nơi ĐKNKTT: khối 5, phường Tr, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Nam L và bà Nguyễn Thị L; anh chị em ruột: có 6 người, bị cáo là con thứ hai; vợ: Đặng Thị Kim O, sinh năm 1971, con: Lê Anh Đ; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 27/10/2015 TAND thành phố Vinh xử phạt 25 tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, ra trại ngày 25/01/2017; nhân thân: ngày 13/6/2005 bị TAND thành phố Vinh phạt 7 triệu đồng về tội Đánh bạc.
Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An từ ngày 02/02/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 01/02/2018, Lê Trung Th dùng máy điện thoại di động của mình có số thuê bao 0912120022 gọi cho người phụ nữ tên Thủy (Th không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) qua điện thoại, Th nói Thủy bán 01 gói ma túy tổng hợp dạng đá với giá 300.000 đồng. Thủy đồng ý hẹn địa điểm giao dịch mua bán ma túy ở khu vực trạm thu phí cầu Bến Thủy, thành phố Vinh, Nghệ An. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày 01/02/2018, Th đi đến điểm hẹn và mua của Thủy 01 ma túy tổng hợp dạng đá với giá 300.000 đồng. Mua được ma túy, Th đi đến khu vực số nhà 76, ngõ 1, đường Cao Bá Quát, thuộc khối 5, phường Trường Thi, thành phố Vinh thì bị tổ công tác công an phường Hưng Bình, thành phố Vinh phát hiện bắt quả tang, thu giữ ở tay phải của Th 01 bao potylen màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, Thành khai nhận đó là ma túy tổng hợp dạng đá cất dấu để sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Pantech màu đen có có số thuê bao 0912120022. Người cùng tang vật được đưa về Công an phường Hưng Bình lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Vinh, Lê Trung Th thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận giám định số 299/KL-PC 54 (MT) ngày 07/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất kết tinh màu trắng ghi thu của Lê Trung Th gửi tới giám định là ma túy tổng hợp (Methamphetamine) có trọng lượng là 0,160 gam”.
Tại Bản cáo trạng số 165/VKS-HS ngày 17/04/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Lê Trung Th về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.
Ngoài ra, còn đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và xử lý vật chứng là: Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 :Tịch thu tiêu hủy số ma túy tổng hợp (Methamphetamine) thu giữ từ Lê Trung Th. Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Pantch màu đen, đã cũ.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung:
. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Trung Th khai nhận như sau: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 01/02/2018 tại khu vực số nhà 76, ngõ 1, đường Cao Bá Quát thuộc khối 5, phường Trường Thi, thành phố Vinh, Nghệ An Lê Trung Thành đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy tổng hợp (Methamphetamine) có trọng lượng 0,160 gam để sử dụng thì bị Tổ công tác công an phường Hưng Bình, thành phố Vinh phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.
Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi cất giữ cất giữ trái phép 01 gói ma túy tổng hợp (Methamphetamine), có khối lượng 0,160 gam để sử dụng của Lê Trung Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
. Đây là vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện như ma túy tổng hợp (Methamphetamine). Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Đảng và nhà nước đang kiên quyết đấu tranh nhằm đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi cộng đồng xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức được ma túy là chất độc hại, Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng, vận chuyển nhưng vẫn liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.
Bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 điều 52 BLHS 2015 nên cần xử phạt thật nghiêm, tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải , bố mẹ bị cáo là người có công được tặng thưởng huân huy chương nên cần áp dụng điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 BLHS thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đ đến 500.000.000 đồng nhưng xét thấy bị cáo hiện nay không có công ăn việc làm ổn định, tài sản riêng không có gì nên miễn cho bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói ma túy tổng hợp (Methamphetamine), có khối lượng 0,160 gam là vật chứng vụ án cần tịch thu tiêu hủy, đối với 01 chiếc điện thoại di động Pantch màu đen, đã cũ liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước theo quy định tại Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1].Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung Th phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Trung Th 15 (mười lăm) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 02/02/2018.
[2]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự n¨m 2015; Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư niêm phong dán kín thu giữ vật chứng của Lê Trung Th; tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Pantch màu đen, đã cũ.
(Vật chứng này hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK888 ngày 16/05/2018).
[3]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Trung Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |