| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2017/HC-PT Ngày: 25/9/2017 V/v khiếu kiện quyết định thu hồi đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
-
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Bá Sơn
Ông Nguyễn Thanh Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Ngân, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 181/TLPT-HC ngày 23 tháng 8 năm 2017 về việc: “Khiếu kiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 09/2017/HC-ST ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 181/2017/QĐ-PT ngày 30 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Võ Văn S,
Địa chỉ: Lô 39, Khu Tái định cư, tổ 14, thôn D, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ: 42
, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Anh U –
Ủy ban nhân dân thành phố N
Ủy ban nhân dân thành phố N)
-
T -
–
E
.
-
–
M thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
-
A –
M
N, tỉnh Khánh Hòa.
kháng cáo: Ông Võ Văn S.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Ủy ban nhân dân thành phố N
V,
2
2 thành phố N
:
lâu năm 42,4m2.
Ủ
-
P
G.
Ngày 11 tháng 6 năm 2012, Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thành phố N ban hành Quyết định số 1433/QĐ-UBND (sau đây viết tắt là
về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Võ Văn S (sau đây gọi
là ông S) để thực hiện dự án Hệ thống thoát lũ từ cầu P về đến đầu sông G, thành phố N.
Ngày 14 tháng 12 năm 2011, UBND thành phố N ban hành Quyết định 4259/QĐ-UBND (sau đây viết tắt là
về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng đối với hộ gia đình ông S
. Ông S
Ngày 09 tháng 8 năm 2016, Chủ tịch UBND thành phố N ban hành Quyết định số 4907/QĐ-UBND (sau đây viết tắt là
về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông S để thực hiện dự án Hệ thống thoát lũ từ cầu P về đến đầu sông G, thành phố N.
Ngày 16 tháng 11 năm 2016, ông S có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 4907/QĐ-UBND ngày 09/8/2016 của Chủ tịch UBND thành phố N
Căn cứ văn bản số 130/HĐBT ngày 20/5/2014 của Hội đồng BTHT và TĐC dự án Hệ thống thoát lũ từ cầu P về đến đầu sông G trả lời đơn tập thể các hộ dân thì thửa đất số 1281, tờ bản đồ số 4, xã V, thành phố N của ông không nằm trong phạm vi dự án Hệ thống thoát lũ từ cầu P về đến đầu sông G nên Quyết định thu hồi đất đối với thửa đất nói trên và Quyết định số 4907/QĐ-UBND ngày 09/8/2016 của Chủ tịch UBND thành phố N về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông S để thực hiện dự án Hệ thống thoát lũ từ cầu P về đến đầu sông G, thành phố N là không đúng pháp luật. Trong phần đất bị thu hồi có một phần là đất thổ cư (25m2) nhưng ông lại không được cấp đất tái định cư. Vì vậy, ông không nhận tiền bồi thường và không đồng ý Quyết định thu hồi đất.
Ủy ban nhân dân thành phố N
Căn cứ vào Quyết định 1825/QĐ-UB ngày 27/10/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Hệ thống thoát lũ từ cầu P về đến đầu sông G, thành phố N; Hồ sơ kỹ thuật thửa đất; Biên bản kiểm kê khối lượng bồi thường, giải tỏa; Bản đồ Trích đo địa chính số 08/2010/TĐ-BĐ Công trình Hệ thống thoát lũ từ cầu P về đến đầu sông G – thành phố N thì thửa đất số 1281, tờ bản đồ địa chính số 4 xã V, thành phố N (tương ứng với thửa số 220 bản đồ hiện trạng số 3 được Sở Tài nguyên và Môi trường xác nhận ngày 29/3/2010) là thửa đất thuộc phạm vi phải thu hồi để thực hiện dự án Hệ thống thoát lũ từ cầu P về đến đầu sông G, thành phố N. UBND thành phố N đã ban hành Quyết định số 1433/QĐ-UBND ngày 11/6/2012 về việc thu hồi đất và Quyết định số 4259/QĐ-UBND ngày 14/12/2011 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng đối với ông S. Ông S đã nhiều lần được thông báo đến nhận tiền bồi thường và thực hiện việc giao mặt bằng nhưng ông S không chấp hành. UBND xã V cùng các đoàn thể cũng đã nhiều lần vận động gia đình ông S giao mặt bằng nhưng ông S vẫn không đồng ý.
Ngày 09/8/2016, Chủ tịch UBND thành phố N ban hành Quyết định số 4907/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông S. Việc thu hồi đất và ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất được thực hiện theo đúng trình tự pháp luật quy định.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 09/2017/HC-ST ngày 31/7/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa quyết định:
Căn cứ Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính,
Bác yêu cầu của ông Võ Văn S đối với yêu cầu hủy Quyết định số 4907/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8 năm 2016 của Chủ tịch UBND thành phố N về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Võ Văn S để thực hiện dự án Hệ thống thoát lũ từ cầu P về đến đầu sông G, thành phố N.
Ngày 10/8/2017 người khởi kiện ông Võ Văn S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ông S
trên
- N
C
-
Ủy ban nhân dân
ông S
2
Ủy ban nhân dân thành phố N
ông S
ông S
kháng cáo
9 Trong
năm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
-
N [2]
nh
bản đồ số 4, xã V, thành phố N
h
P
G, thành phố N. [3]
B [4]
Ủy ban nhân dân thành phố N
-
-[5]
P
G, thành phố N
theo [6]
-
(
:
“2. Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất, cơ quan tài nguyên và môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt và công bố công khai phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định sau:
a) Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất liên quan từ hai quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên;
b) Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này; [7]
Ủy ban nhân dân thành phố N ông S
trên
. [8]
, n
“c) Trong thời hạn không quá ba (03) ngày, kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được phê duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi, trong đó nêu rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, về bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thời gian bàn giao đất đã bị thu hồi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.” [9]
:
“2. Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá đất tại thời điểm quyết định thu hồi đất; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền…..” [10]
“1. Nhà ở, đất ở tái định cư được thực hiện theo nhiều cấp nhà, nhiều mức diện tích khác nhau phù hợp với mức bồi thường và khả năng chi trả của người được tái định cư.
Đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở mà không có chỗ ở nào khác thì được giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư.” [11]
ông S
67,4m2
2
2
.
.
-
Ủy ban nhân dân
ông S do
2
-
Ủy ban nhân dân
C
Q –
P
G, thành phố N” [12]
ông S Công văn
-
N 414/TB-UBND [13]
Ủy ban nhân dân
-
. [14]
ều 32 Nghị đị
“1. Việc cưỡng chế thu hồi đất theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Luật Đất đai chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Thực hiện đúng trình tự, thủ tục về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định tại các Điều 27, 28, 29 và 38 Nghị định này;
b) ………………………………………………………………………….”
ông S, trong khi
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
, Ủy ban nhân dân thành phố N [16]
ông S
.
, kháng cáo
ông S
trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
. [18]
Căn cứ Điều
Điều 14, Điều 19, Điều 31, Điều 32
-
về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
ông Võ Văn S;
số 09/2017/HC-ST ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
1.
ầu khởi kiện của ông Võ Văn S:
Hủy Quyết định số 4907/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8 năm 2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Võ Văn S để thực hiện dự án Hệ thống thoát lũ từ cầu P về đến đầu sông G, thành phố N.
2.
a.
ông Võ Văn S
3
0006ZZZ
7/4
.
b.
Ủy ban nhân dân thành phố N
300.000đ.
3.
ông Võ Văn S
000YYY
17/8
.
4.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh ; - Cục THADS tỉnh ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VT, Phòng HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( |