vanban.org

Bản án 1680/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Phạm Thanh T. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Quỳnh A, sinh ngày 22/3/2016 cho bà Nguyễn Thị B trưc tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị B- Phạm Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1680/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-5-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Đoàn

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tiến Dũng

2. Bà Bùi Thị Phụng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Quân- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sơ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sư thụ lý số 3019/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1485/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2086/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05/5/2023, giữa các đương sư:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1989

Địa chỉ: Đường M, khu phố S, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Phạm Thanh T, sinh năm 1989

Địa chỉ: Đường M, khu phố S, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà Nguyễn Thị B có măt, ông Phạm Thanh T văng măt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:

Bà và ông Phạm Thanh T tìm hiểu và tư nguyện đăng ký kết hôn tiến tới hôn nhân có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13 vào ngày 25/01/2016.

Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc, nhưng đến khoảng năm 2019 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm trong cuộc sống. Đến năm 2020, ông T đánh nhau gây thương tích cho người khác ơ bên ngoài và bỏ trốn, bị công an khơi tố và trốn truy nã, không liên lạc với gia đình từ đó đến nay. Hiện nay hoàn cảnh của bà vô cùng khó khăn, vất vả, phải một mình nuôi con nhỏ. Bà và ông T không còn khả năng quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không còn đạt được.

Vì vậy, bà yêu cầu được giải quyết ly hôn với ông Phạm Thanh T.

- Về con chung: Quá trình chung sống chung bà có 01 con chung tên Phạm Quỳnh A, sinh ngày 22/3/2016. Bà yêu cầu được trưc tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Ngoài ra bà B không có yêu cầu nào khác.

Bị đơn ông Phạm Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng văng măt không ro lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sư về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sư, tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, thời gian mơ phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử và nguyên tăc xét xử. Về thưc hiện quyền và nghĩa vụ của đương sư, nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sư trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay; bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Tranh chấp giữa các đương sư là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sư năm 2015.

Căn cứ kết quả xác minh của Công an phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức thì bị đơn ông Phạm Thanh T cư trú tại phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, nhưng hiện đã trốn truy nã từ ngày 08/11/2020.

Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sư thì: “Trường hợp trong đơn khơi kiện, người khơi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sơ mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khơi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khơi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khơi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung”

Theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 31 Luật cư trú năm 2020 quy định: Công dân có trách nhiệm khai báo tạm văng trong các trường hợp sau đây: Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đang cư trú từ 01 ngày trơ lên đối với bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoăc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoăc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án...”.

Như vậy theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sư; điểm a, khoản 1 Điều 31 Luật cư trú năm 2020 thì trường hợp ông T trốn truy nã được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án giải quyết theo thủ tục chung. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sư năm 2015.

. Bị đơn ông Phạm Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn văng măt không ro lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sư năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử văng măt các đương sư.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị B và ông Phạm Thanh T tìm hiểu và tư nguyện đăng ký kết hôn tiến tới hôn nhân có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13 vào ngày 25/01/2016 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Đối với yêu cầu của bà B về việc ly hôn với ông T:

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc phải được xây dưng trên cơ sơ tình cảm tư nguyện, hai vợ chồng cần có sư yêu thương, quan tâm, cùng nhau chia sẻ, vun đăp gia đình. Tuy nhiên, theo bà B trình bày: Đến năm 2020, ông T đánh nhau gây thương tích cho người khác ơ bên ngoài và trốn truy nã của công an, không liên lạc với gia đình từ đó đến nay. Hiện nay hoàn cảnh của tôi vô cùng khó khăn, vất vả, phải một mình nuôi con nhỏ. Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến Tòa án nhưng văng măt không có lý do nên Tòa án không làm ro được mâu thuẫn. Do đó, bà B yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sơ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Qua ý kiến trình bày của bà B, sư văng măt của ông T, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sơ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn găn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, bà B yêu cầu ly hôn ông T là có cơ sơ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về con chung:

Căn cứ Trích lục khai sinh số 116/TLKS-BS do UBND phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức cấp ngày 20/02/2017, có đủ cơ sơ xác định bà Nguyễn Thị B và ông Phạm Thanh T có 01 con chung tên Phạm Quỳnh A, sinh ngày 22/3/2016.

Đối với yêu cầu giao con chung cho bà trưc tiếp nuôi dưỡng: Xét, việc quyết định giao con cho ai nuôi Hội đồng xét xử phải xem xét đảm bảo quyền lợi mọi măt của con. bà B có yêu cầu giao con chung cho bà trưc tiếp nuôi dưỡng. ông T đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án bà B khai con chung hiện đang do bà trưc tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên yêu cầu giao con chung Phạm Quỳnh A cho bà trưc tiếp nuôi dưỡng là có cơ sơ chấp nhận.

Ghi nhận sư tư nguyện của bà về việc tư nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi mỗi.

. Về tài sản chung và nợ chung:

Về tài sản chung: bà B xác định không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về nợ chung: bà B xác định không có.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị chấp nhận yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn là có cơ sơ và phù hợp.

. Về án phí dân sư sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sư sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 186; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sư năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 55; 57; 58; 81; 82; 83; 84; 107; 110; 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sư năm 2008, (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014);

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Phạm Thanh T.

- Về con chung: Giao con chung tên Phạm Quỳnh A, sinh ngày 22/3/2016 cho bà Nguyễn Thị B trưc tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sư tư nguyện của bà Nguyễn Thị B về tư nguyện không yêu cầu ông Phạm Thanh T cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trưc tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trơ. Người không trưc tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trơ hoăc gây ảnh hương xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trưc tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoăc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trưc tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị B xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị B xác định không có.

2. Về án phí dân sư sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sư sơ thẩm; nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0007082 ngày 28/11/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sư thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. bà Nguyễn Thị B đã nộp đủ tiền án phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Bà Nguyễn Thị B có măt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Thanh T văng măt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoăc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sư thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tư nguyện thi hành án hoăc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sư; thời hiệu thi hành án được thưc hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sư”.

Cỡ chữ