- Tranh chấp gì? "Lò Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản số: 168/2018/HSST Ngày 09/7/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lường Văn Hịa
2. Ông Lê Quang Hòa
- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Đoản - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Đ
- Đại diện VKSND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Đạt, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 09/7/2018 tại trụ sở ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 176/2018/HSST ngày 21/6/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:174/2018/QĐXXST-HS ngày 26 /6/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn K. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1992. Tại tỉnh Điện Biên. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản H 1, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hoá: 7/12. Con ông: Lò Văn P (đã chết). Con bà: Cà Thị M, sinh năm 1963.Gia đình bị cáo có 5 anh chị em, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình. Bị cáo có vợ: Lò Thị X, sinh năm 1995, bị cáo có 2 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014. Tiền án; Tiền sự: Không: Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án xét xử. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 03/6/2018, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 02/6/2018, Lò Văn K mang theo 700.000đ đi bộ từ nhà ở bản H 1, xã M, huyện Đ ra Quốc lộ 12 rồi đi nhờ xe môtô của một người đàn ông dân tộc Thái không biết tên và địa chỉ đến khu vực đập tràn thuộc bản L 2, xã M, huyện Đ mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây K gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi không biết tên và địa chỉ. Qua trao đổi, K đã mua được của người đó 01 gói heroine bên ngoài gói bằng nilon màu hồng với giá 700.000đ. Sau khi mua được heroine K cầm gói heroine xem qua rồi gói lại như cũ và cầm ở tay trái đi bộ về nhà. Hồi 21 giờ 00 phút cùng ngày, không thấy ai ở nhà K lấy gói heroine ra chia thành 07 gói nhỏ trong đó 01 gói bằng nilon trắng, 06 gói được gói bằng nilon màu hồng sau đó K dùng mảnh nilon màu hồng gói tất cả 07 gói heronie lại và cất giấu vào trong cạp quần lót đang mặc trên người. Hồi 14 giờ 45 phút ngày 03/6/2018 khi K đang ở nhà thì bị tổ công tác Đồn Biên Phòng M phát hiện phát hiện bắt quả tang và thu giữ tại cạp quần của Khói 01 gói ni lon màu hồng bên trong gồm 07 gói Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 04/6/2018 đã xác định: Toàn bộ số cục, bột màu trắng thu giữ của bị cáo Lò Văn K có khối lượng là 1,39 gam, trích 0,08 gam gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 545/GĐ-PC54 ngày 15/6/2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn K là chất ma túy loại heroine.
Tại bản cáo trạng số 121/CT-VKSĐB ngày 20/6/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Lò Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS năm 2015: Xử phạt bị cáo Lò Văn K từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.
Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí đối với bị cáo.
Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND huyện Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.
.Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lò Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Mọi lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.
.Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Lò Văn K là đối tượng nghiện chất ma túy bị cáo đã đi từ nhà ở bản H 1, xã M, đến khu vực đập tràn thuộc bản L 2, xã M, huyện Đ mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây bị cáo đã gặp một người đàn ông dân tộc thái khoảng 30 tuổi không biết tên và địa chỉ và mua được của người đó 01 gói heroine, với giá 700.000đ. Sau khi mua được heroine K cầm gói heroine xem qua rồi cầm ở tay trái đi bộ về nhà, thấy không có ai ở nhà K chia gói heroine thành 7 gói nhỏ cất giấu trong cạp quần lót đang mặc trên người chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trên người 1,39 gam heroine.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Vật chứng thu giữ của bị cáo đã được cân xác định khối lượng là 1,39 gam, kết luận giám định là heroine. Với hành vi tàng trữ 1,39 gam heroine mục đích để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015, có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
C¸o tr¹ng cña VKSND huyện Đ ®· truy tè bÞ c¸o lµ ®óng ng êi, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt. BÞ c¸o cã ®Çy đủ n¨ng lùc ®Ó chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù tr íc ph¸p luËt vÒ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh ®· g©y ra.
. XÐt tÝnh chÊt møc ®é ph¹m téi cña bÞ c¸o th× hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý lµ hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng lµm ¶nh h ëng ®Õn trËt tù trÞ an, an toµn x· héi. Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o ®· x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ chÊt ma tuý. BÞ c¸o nhËn thøc ® îc t¸c h¹i cña ma tuý, nhËn thøc ® îc hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý lµ vi ph¹m ph¸p luËt. Song vì nhu cầu của bản thân bÞ c¸o ®· bÊt chÊp vµ cè t×nh vi ph¹m. Nªn cÇn ph¶i xö lý bị cáo nghiêm minh theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho thấy:
Sinh ra và lớn lên tại huyện Đ, bản thân học hết lớp 7/12 thì bỏ học năm 2015 nghiện ma túy. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS năm 2015.
HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo và có thời gian cai nghiện ma túy.
. Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 249/BLHS. XÐt kinh tÕ bÞ c¸o khã kh¨n, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nªn kh«ng cã ®iÒu kiÖn ®Ó thi hµnh. Héi ®ång xÐt xö kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o.
Còn người đàn ông dân tộc Thái bị cáo đã gặp tại khu vực đập tràn thuộc bản L 2, xã M theo bị cáo khai đã bán heroine cho bị cáo, do không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét.
. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS 2015 về xử lý vật chứng. Tịch thu tiêu huỷ 1,39 gam heroine đã trích 0,08 gam gửi giám định không hoàn lại.
. Về án phí: Bị cáo có hộ khẩu thường trú tại xã đặc biệt khó khăn thuộc diện miễn án phí. Áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 bị cáo được miễn toàn bộ án phí HSST.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS năm 2015.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Lò Văn K 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (03/6/2018).
3. Vật chứng: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015.
- Tịch thu tiêu huỷ 1,39 gam heroine đã trích 0,08 gam gửi giám định không hoàn lại. (Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên vào ngày 25/6/2018).
4. Về án phí: Căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn K được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/7/2018).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Phòng HNVCA tỉnh ĐB; - Sở TP tỉnh Điện Biên; - CCTHADS huyện Đ; - Bị cáo; - Lưu./ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạc Thị Liên |