vanban.org

Bản án 168/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 3 Điều 11 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội…

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Danh Thị N và anh Trương Hải T ly hôn. Về con chung: Giao 02 con chung tên Trương Thị Kiều T1, sinh ngày 31/7/2015 và Trương Bảo N1, sinh ngày 15/9/2021 cho anh Trương Hải T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Chị Danh Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Danh Thị N ly hôn anh Trương Hải T"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 3 Điều 11 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội…
  • Căn cứ chính? Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 23-7-2026
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Thanh Chiều.

Bà Lý Thị Si Đê.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bé Năm – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 237/2026/TLST-HNGĐ ngày 01/6/2026 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 338/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Danh Thị N, sinh ngày 20/12/1992.

Nơi cư trú: Thôn S, xã T, thành phố Đ (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx.

- Bị đơn: Anh Trương Hải T, sinh ngày 27/11/1989.

Nơi cư trú: Ấp C, xã A, thành phố Cần Thơ (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 05 năm 2026 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Danh Thị N trình bày:

Nguyên trước đây, chị Danh Thị N và anh Trương Hải T tự quen biết nhau, có làm lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 13 tháng 05 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã A, thành Phố Cần Thơ). Chị N và anh T chung sống với nhau có 02 con chung tên Trương Thị Kiều T1, sinh ngày 31/7/2015 và Trương Bảo N1, sinh ngày 15/9/2021. Hiện tại hai con chung đang sống chung cùng cha là anh Trương Hải T. Chị N và anh T chung sống với nhau thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nên cuộc sống giữa chị N và anh T không hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện chị N và anh T đã sống ly thân từ tháng 01/2025 cho đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng tư, không ai liên hệ với ai.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay chị Danh Thị N yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ xem xét và giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Thị N yêu cầu được ly hôn với anh Trương Hải T.

- Về con chung: Đối với 02 con chung tên Trương Thị Kiều T1, sinh ngày 31/7/2015 và Trương Bảo N1, sinh ngày 15/9/2021. Hiện tại 02 con đang sống chung cùng với anh T, do vậy sau khi ly hôn chị N đồng ý giao cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung cho đến tuổi thành niên, chị N không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 25 tháng 6 năm 2026, bị đơn anh Trương Hải T trình bày:

Về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung đúng như nguyên đơn trình bày. Trước yêu cầu khởi kiện của chị N, anh T có ý kiến như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Hải T đồng ý ly hôn với chị Danh Thị N.

- Về con chung: Đối với 02 con chung tên Trương Thị Kiều T1, sinh ngày 31/7/2015 và Trương Bảo N1, sinh ngày 15/9/2021. Hiện tại hai con đang sống chung cùng anh Trương Hải T, do vậy sau khi ly hôn anh Trương Hải T đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng 02 con cho đến tuổi thành niên. Anh Trương Hải T không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án, xét thấy nguyên đơn, bị đơn thường xuyên mâu thuẫn với nhau do bất đồng quan điểm sống, không còn sống chung với nhau, không hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

- Về con chung: Chị N và anh T có hai người con chung là cháu Trương Thị Kiều T1, sinh ngày 31/7/2015 và cháu Trương Bảo N1, sinh ngày 15/9/2021. Hiện nay, cháu T1 và cháu N1 đang sống chung với anh T, chị N đồng ý giao cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung cho đến tuổi thành niên, anh T đồng ý tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 và cháu N1 đến tuổi thành niên và cháu Trương Thị Kiều T1 cũng có nguyện vọng được sống chung với cha là anh Trương Hải T. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Trương Thị Kiều T1, sinh ngày 31/7/2015 và cháu Trương Bảo N1, sinh ngày 15/9/2021 cho anh Trương Hải T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, giành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho chị N mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N và anh T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải quyết: Khi chị Danh Thị N khởi kiện thì anh Trương Hải T; cư trú tại ấp C, xã A, thành phố Cần Thơ. Chị N có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Trương Hải T và yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung. Chị N đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho chị N nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và chị N đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, việc Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ thụ lý đơn khởi kiện của chị Danh Thị N là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Danh Thị N và bị đơn anh Trương Hải T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất. Chị N và anh T đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt chị Danh Thị N và anh Trương Hải T.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Thị N, sinh ngày 20/12/1992 và anh Trương Hải T, sinh ngày 27/11/1989 tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 70 ngày 13 tháng 5 năm 2017 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Danh Thị N và anh Trương Hải T là hợp pháp.

Xét lý do xin ly hôn của chị Danh Thị N, Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng chị N và anh T hạnh phúc được một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng sống không còn hạnh phúc. Chị N và anh T không còn sống chung với nhau thời gian dài từ tháng 01 năm 2025 cho đến nay và đã bỏ mặc nhau làm cho tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị N và anh T trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được chị N và anh T đều tự nguyện ly hôn nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N.

Về con chung: Chị N và anh T có hai người con chung là cháu Trương Thị Kiều T1, sinh ngày 31/7/2015 và cháu Trương Bảo N1, sinh ngày 15/9/2021, chị N đồng ý giao 02 con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, anh T đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 và cháu N1 đến tuổi thành niên. Xét thấy, hiện nay cháu Trương Thị Kiều T1 và cháu Trương Bảo N1 đang sống chung với anh T, được anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu T1 có nguyện vọng được sống chung với cha là anh Trương Hải T. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Trương Thị Kiều T1 và cháu Trương Bảo N1 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung đến tròn 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, chị Danh Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Chị N không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh T.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và tại Điều 11 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình quy định: “… 3. Trường hợp trước khi mở phiên tòa, các bên đương sự tự nguyện ly hôn nhưng không thỏa thuận được về con chung và tài sản chung mà Tòa án xét xử và ra bản án sơ thẩm thì các đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định đối với yêu cầu xin ly hôn (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định); về quan hệ tài sản thì mức án phí mỗi bên phải chịu tương ứng với giá trị phần tài sản mà mỗi bên được chia theo quy định của pháp luật về án phí”. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì anh T tự nguyện ly hôn với chị N. Do đó, chị N và anh T mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn với số tiền là 75.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 3 Điều 11 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Danh Thị N và anh Trương Hải T ly hôn.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Trương Thị Kiều T1, sinh ngày 31/7/2015 và Trương Bảo N1, sinh ngày 15/9/2021 cho anh Trương Hải T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Chị Danh Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Chị Danh Thị N không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh T.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Chị Danh Thị N và anh Trương Hải T mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn với số tiền 75.000 đồng. Số tiền án phí dân sự sơ thẩm của chị N được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0010652 ngày 27 tháng 5 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy, chị Danh Thị N được hoàn lại số tiền chênh lệch 225.000 đồng.

6. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ