- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thị T - Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 3…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Thị T và chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 323 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2025/HS-PT Ngày: 17 tháng 12 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Bách.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Hằng;
Bà Ninh Thị Kiều Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Nghiêm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trương Quang Trung – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 171/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Trương Thị T do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa.
- Bị cáo có kháng cáo:
TRƯƠNG THỊ T, sinh năm: 1978, tại tỉnh Thanh Hóa;
Nơi cư trú: Thôn N, xã B, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trương Ngọc Q (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; Chồng là Trương Văn T2 (Đã ly hôn) và 02 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Tạm giữ, Tạm giam: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phan Tấn H, thuộc Văn phòng L3, Đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa, Quyết định kháng nghị số 209/QĐ-VKS-HS ngày 09/9/2025. Ngoài ra, còn có bị cáo Nguyễn Mạnh P, các Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo của bị cáo Trương Thị T, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Khánh Hoà nên không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Mạnh P và Nguyễn Mạnh T3 là con ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị X; P, T3 thường xuyên lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền, tiêu xài cá nhân.
Khoảng 21 giờ ngày 17/6/2024, P, T3 đi bộ trên đường ĐT7 thuộc thôn G, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu vàng đen, biển số 60C1 – 870.52 của ông Nguyễn Sanh S dựng trong sân nhà không người trông coi, T3 đứng ở ngoài cảnh giới còn P lén lút dắt xe ra khỏi sân nhà ông S, sau đó T3 phụ đẩy xe mô tô ra đường T hướng đến ngã 4 Đ. Sau đó, P tháo dây nguồn xe mô tô đấu nối trực tiếp với nhau, nổ được máy xe, sử dụng làm phương tiện đi lại. Khoảng 16 giờ, ngày 25/6/2024, P và T3 đi đến khu vực nghĩa trang T8, xã B, tỉnh Khánh Hòa, để trộm cắp tài sản thì người dân phát hiện truy đuổi nên bỏ lại 01 xe mô tô biển số 60C1 – 870.52 cùng 01 xe mô tô loại Wave màu đỏ (đã bị phủ sơn đen, không dàn áo, không gắn biển số, số máy VTTJL1P52FMH005813), chạy bộ lên núi tẩu thoát.
Quá trình điều tra còn xác định, cũng với động cơ, mục đích và hành vi tương tự, Nguyễn Mạnh P cùng Nguyễn Mạnh T3 đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác, cụ thể như sau:
Vụ thứ hai: Vào khoảng đầu tháng 6 năm 2024, P, T3 đi đến khu vực bờ đập của hồ Đ, thuộc xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa để câu cá thì phát hiện 01 mô tô loại Wave (không có dàn áo, không có biển số, loại xe độ, hàn rất nhiều sắt để đi núi) chưa xác định được chủ sở hữu, không có người trông coi, T3 đứng ở ngoài cảnh giới còn P lén lút dắt xe mô tô, đạp cần khởi động, nổ được máy chở T3 tẩu thoát. Chiếm đoạt được xe, P, T3 đem đến tiệm phế liệu không xác định được trên đường Q thuộc khu vực M, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, bán lấy số tiền 500.000 đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày đầu tháng 6 năm 2024 (cách vụ thứ nhất từ 02 – 03 ngày), P, T3 và Trương Quang T4 rủ nhau đến huyện V, tỉnh Khánh Hòa để trộm cắp tài sản. Khi đến bãi đất trống khu vực bờ kè thuộc xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, thì phát hiện 01 xe mô tô loại Wave Lifan (không có dàn áo, không gắn biển số, số máy 1P52FMH310475755, số khung: RRKWCH5UM7X009522), chưa xác định được chủ sở hữu. T3, T4 đứng ở ngoài cảnh giới còn P lén lút dắt xe mô tô, đạp cần khởi động nổ được máy, giao xe cho T4 chở P, T3 về tiệm thu mua phế liệu của Trương Thị T để bán. Do trời tối nên T không mua và hẹn sáng ngày mai. Khoảng 07 giờ sáng ngày hôm sau, P, T3 đến gặp T thì T hỏi “Xe gớm dữ vậy”, P trả lời “Xe con lấy dưới biển”. Lúc này, T biết xe mô tô là do P, T3 trộm cắp mà có, T vẫn đồng ý mua và trả cho P, T3 số tiền 500.000 đồng.
Vụ thứ tư: Sau khi trộm cắp được xe mô tô của ông Nguyễn Sanh S, đêm ngày 17/6/2024, P điều khiển xe mô tô biển số 60C1 – 870.52 chở T3 đến khu vực bờ kè thuộc xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu HONDA, loại Wave màu đỏ (đã bị phủ sơn đen, không dàn áo, không gắn biển số, số máy VTTJL1P52FMH005813), chưa xác định được chủ sở hữu. T3 đứng ở ngoài cảnh giới còn P lén lút đến dắt xe mô tô, nổ máy giao cho T3 điều khiển cùng P về lại thị xã N. Đến ngày 25/6/2024, xe mô tô hiệu HONDA, loại Wave màu đỏ (đã bị phủ sơn đen, không dàn áo, không gắn biển số, số máy VTTJL1P52FMH005813) bị Công an xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, thu giữ.
Vụ thứ năm: Vào khoảng 16 giờ ngày 18/6/2024, P, T3 đến khu vực nghĩa địa thôn G, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, thì phát hiện 01 máy cày mini loại có tay cầm, hiệu Kubota (GN250-EB) của ông Nguyễn Văn L1 để trong trại trống. P và T3 lén lút tháo rời bộ máy nổ và bánh máy cày ra rồi lấy 01 động cơ máy nổ, 01 bánh lồng tháo rời, 01 bánh lồng kết nối với hộp số đem cất dấu. Đến khoảng 16 giờ ngày 22/6/2024, P điều khiển xe mô tô biển số 60C1 – 870.52 chở 01 động cơ máy nổ, 01 bánh lồng để T3 ngồi sau ôm đến tiệm thu mua phế liệu của Trương Thị T. Tại đây, P, T3 gặp con trai T là Trương Thế Đức M hỏi bán, do T đã về quê nên M gọi video call trên ứng dụng Zalo cho T và thông báo P, T3 đến bán bộ phận máy xới đất, quay video bộ phận máy xới đất để T biết đặc điểm, T đồng ý mua và nói M lấy số tiền 400.000 đồng trả cho P, T3. Liền đó cũng với cách thức tương tự, P, T3 bán 01 bánh lồng kết nối với hộp số cho T, lấy số tiền 200.000 đồng.
Vụ thứ sáu: Khoảng 20 giờ ngày 22/6/2024, P điều khiển xe mô tô biển số 60C1 – 870.52 chở T3 đi đến Tượng đài V thuộc thôn E, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Tại đây, P, T3 phát hiện 03 máy bơm nước hiệu Panasonic (gồm: 02 máy loại GP-20-HCN1SVN và 01 máy loại GP-200-JXLEIPX4) của ông Nguyễn Văn T5 để ở phòng kho không khoá cửa. P, T3 lén lút tháo, lấy 03 máy bơm rồi chở đến tiệm thu mua phế liệu của Trương Thị T gặp M, do trời tối nên M không mua và hẹn sáng ngày mai, P, T3 để 03 máy bơm trước nhà T, dùng bạt che lại. Đến khoảng 09 giờ ngày 23/6/2024 P, T3 đến gặp M thì M gọi video call trên ứng dụng Zalo cho T và thông báo P, T3 đến bán máy bơm nước rồi chụp hình máy bơm nước gửi để T biết đặc điểm, T đồng ý mua 03 máy bơm nước và nói M lấy số tiền 500.000 đồng trả cho P, T3.
Vụ thứ bảy: Ngày 24/6/2024, P điều khiển xe mô tô biển số 60C1 – 870.52 chở T3 đi đến khu vực bờ mương kênh Đ thuộc thôn B, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Tại đây, P, T3 phát hiện 01 máy bơm nước nhãn hiệu LEEDO modell D-2.0HP của ông Trần Văn L2 để trên bờ mương. T3 đứng ở ngoài cảnh giới còn P lén lút đến tháo máy, đưa lên xe mô tô để T3 ngồi sau ôm chở đi cất giấu. Đến khoảng 08 giờ ngày 25/6/2024, P, T3 mang máy bơm đến tiệm thu mua phế liệu của Trương Thị T gặp M thì M gọi video call trên ứng dụng Zalo cho T và thông báo P, T3 đến bán máy bơm nước rồi chụp hình máy bơm nước gửi để T biết đặc điểm, T đồng ý mua máy bơm nước và nói M lấy số tiền 300.000 đồng trả cho P, T3.
Vụ thứ tám: Khoảng 16 giờ ngày 26/6/2024, P gọi điện rủ Trương Quang T4 đi trộm cắp tài sản, T4 đồng ý. P, T3 và T4 đi đến khu vực bờ kè thuộc xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa thì phát hiện 01 xe mô tô loại Dream Lifan - Well màu nâu (không dàn áo, không gắn biển số, số máy 1P50FMG310665999, số khung WE1010665760) của bà Đỗ Thị Thu T6 dựng ở bãi đất trống. T3, T4 đứng ở ngoài cảnh giới còn P lén lút dắt xe mô tô, đạp cần khởi động nổ được máy chở T3, T4 về lại thị xã N đem cất giấu ở nghĩa địa thôn G, xã N, thị xã N. Đến khoảng 19 giờ ngày 26/6/2024, P điều khiển xe chở T3 đến tiệm thu mua phế liệu của Trương Thị T gặp M thì M gọi video call trên ứng dụng Zalo cho T và thông báo P, T3 đến bán xe mô tô rồi chụp hình xe mô tô gửi để T biết đặc điểm, T đồng ý mua xe và nói M lấy số tiền 500.000 đồng trả cho P, T3.
Vụ thứ chín: Khoảng 02 giờ ngày 27/6/2024, P, T3 đi bộ đến khu vực Cầu R. P, T3 phát hiện 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, biển số 79H1 - 847.23 của vợ chồng ông Nguyễn Văn S1, bà Nguyễn Thủy Ngọc T7 dựng tại đìa rong nho. T3 đứng ở ngoài cảnh giới còn P lén lút đến dắt xe, nổ máy, điều khiển xe chở T3 đến khu vực dưới chân cầu L thuộc phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa ngủ lại.
Vụ thứ mười: Khoảng 23 giờ ngày 28/6/2024, tại khu vực dưới chân cầu L. P, T3 phát hiện 01 xe môtô hiệu HONDA, loại Wave, màu đỏ, biển số 79X1 - 089.04 (không có dàn áo) của bà Cao Thị P1. T3 đứng ở ngoài cảnh giới còn P lén lút dắt xe đi rồi sử dụng cờ lê tháo biển số xe vừa trộm và xe Sirius trộm tại phường N ra. Sau đó, P gắn biển số 79X1 - 089.04 vào xe mô tô Sirius; còn biển số 79H1 - 847.23 P cầm theo. P, T3 mỗi người điều khiển 01 xe mô tô về lại thị xã N, khi đến khu vực không xác định được thuộc tổ dân phố H, phường N, thị xã N, P vứt biển số 79H1 - 847.23 rồi cùng T3 đem cất giấu 02 xe trong bụi cây thuộc thôn V, xã N, thị xã N.
Vụ thứ mười một: Khoảng 19 giờ ngày 03/7/2024, P điều khiển xe mô tô hiệu HONDA, loại Wave màu đỏ (trộm tại phường C, thành phố C), T3 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, gắn biển số 79X1 - 089.04 (trộm tại phường N, thị xã N) đến khu vực đang làm đường cao tốc thuộc thôn V, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Tại đây, P, T3 phát hiện 01 máy bơm nước hiệu Điezen VIKO loại 60 kg (gồm phần máy nổ Điezen viko và 01 đầu bơm hiệu Kobuta) của ông Trương Kim Q1. Lợi dụng không có người trông coi, P, T3 lén lút khiêng máy bơm nước lên xe mô tô hiệu HONDA để P cầm lái chở, T3 điều khiển xe Yamaha chạy theo sau. Trong lúc vận chuyển máy bơm đến đường DT7 thuộc xã N, thị xã N, thì P, T3 bị Công an xã N phát hiện, đưa về trụ sở làm việc, thu giữ phần máy nổ Điezen viko và 01 đầu bơm hiệu Kobuta; 01 xe mô tô hiệu HONDA, loại Wave màu đỏ; 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, gắn biển số 79X1 - 089.04.
Tại Kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã N:
- Giá trị 01 xe mô tô màu vàng đen hiệu Yamaha, loại Exciter, sản xuất năm 2017, số máy G3D4E445974, số khung RLCUF0610HY426057, xảy ra ngày 17/6/2024 là 15.000.000 đồng.
- Giá trị 01 máy xới đất (máy cày) mini loại có tay cầm nhãn hiệu Kubota (GN250-EB), xảy ra ngày 18/6/2024 là 2.700.000 đồng (tại Công văn số 01/HĐĐGTS ngày 25/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã N xác định tổng giá trị 01 động cơ máy nổ, 01 bánh lồng tháo rời, 01 bánh lồng kết nối với hộp số của máy xới đất (máy cày) mini loại có tay cầm nhãn hiệu Kubota (GN250-EB), xảy ra ngày 18/6/2024 là 595.000 đồng).
- Giá trị 01 máy nổ động cơ Điêzen viko loại công suất 4.85KW (khối lượng tịnh 60kg) và 01 đầu bơm nhãn hiệu Kubota, sản xuất năm 2018, xảy ra ngày 03/7/2024 là 4.060.000 đồng.
- Giá trị 01 xe mô tô màu đen xám hiệu Yamaha, loại sirius, sản xuất năm 2019, số máy E32VE012635, số khung RLCUE3740KY006785, xảy ra ngày 27/6/2024 là 11.945.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 121/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã N:
- Giá trị 03 máy bơm nước hiệu Panasonic (gồm: 02 máy loại GP-20-HCN1SVN (02 ngựa) và 01 máy loại GP-200-JXLEIPX4 (01 ngựa)), xảy ra ngày 22/6/2024 là 10.578.750 đồng.
- Giá trị 01 máy bơm nước nhãn hiệu LEEDO modell D-2.0HP (02 ngựa), xảy ra ngày 24/6/2024 là 1.000.000 đồng.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Thị T 03 (Ba) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Mạnh P; về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
* Phần kháng cáo, kháng nghị:
- Ngày 05/9/2025, bị cáo Trương Thị T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Kèm theo đơn xin xác nhận hoàn cảnh; giấy báo trúng tuyển đại học của Trương Thế Đức M1 (con); kết quả xét nghiệm y tế của Trương Thị T.
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Khánh Hòa có quyết định kháng nghị số 209/QĐ-VKS-HS ngày 09/9/2025 đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm, theo hướng áp dụng khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo Trương Thị T.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội giống với bản án sơ thẩm, giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định kháng nghị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Thị T và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Khánh Hòa, là đúng chủ thể và đảm bảo thời hạn theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Bị cáo Trương Thị T có nhiều nghề, lao động chính là làm nông, kết quả mua bán chưa chuyển hóa thành tiền nên hành vi của T không có tính chất chuyên nghiệp. Các lần phạm tội ít nghiêm trọng.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa; Sửa bản án sơ thẩm số: 30/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo từ 12 – 18 tháng tù.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến:
Bị cáo 05 lần mua tài sản của các bị cáo khác trộm cắp mang đến bán với giá trên 2.000.000 đồng; có 04 lần con bị cáo trực tiếp mua rồi điện thoại Zalo cho bị cáo để hỏi giá mua; tài sản được định giá trên 11.000.000 đồng. Đây là hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là lao động tự do, làm nhiều nghề, kết quả việc mua bán chưa chuyển hóa làm nguồn sống chính do tài sản đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Mức hình phạt 03 năm tù đối với bị cáo là chưa phù hợp, đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo để lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Bị cáo Trương Thị T kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa đúng quy định tại các Điều 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự, nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị T, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống với bản án sơ thẩm, có đủ cơ sở xác định:
Trương Thị T là chủ cửa hàng mua bán phế liệu, không quen biết với Nguyễn Mạnh P và Nguyễn Mạnh T3, Trương Quang T4, không hứa hẹn trước nhưng biết rõ tài sản gồm: 01 xe mô tô loại Wave Lifan (không có dàn áo, không gắn biển số, số máy 1P52FMH310475755, số khung: RRKWCH5UM7X009522); 01 động cơ máy nổ, 01 bánh lồng tháo rời, 01 bánh lồng kết nối với hộp số; 03 máy bơm nước hiệu Panasonic (gồm: 02 máy loại GP-20-HCN1SVN và 01 máy loại GP-200-JXLEIPX4); 01 máy bơm nước nhãn hiệu LEEDO modell D-2.0HP; 01 xe mô tô loại Dream Lifan-Well màu nâu (không dàn áo, không gắn biển số, số máy 1P50FMG310665999, số khung WE1010665760; là do Nguyễn Mạnh P, Nguyễn Mạnh T3, Trương Quang T4 trộm cắp mà có nhưng vì mục đích mua để bán kiếm lời, vì hám lợi nên vẫn cố ý tiêu thụ.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trương Thị T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức bất chấp pháp luật, đã xâm phạm trật tự công cộng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa, thấy rằng:
Chỉ trong tháng 6 năm 2024, bị cáo Trương Thị T đã liên tiếp 05 lần mua tài sản do Nguyễn Mạnh P, Nguyễn Mạnh T3, Trương Quang T4 mang đến bán gồm: 02 xe mô tô, 01 máy cày mi ni loại cầm tay (các bộ phận tháo rời), 04 máy bơm nước, với giá rẻ (giá phế liệu) nhằm mục đích để bán lại kiếm lời, bị cáo lấy đó làm nguồn thu nhập, dù biết rõ đây là tài sản do trộm cắp mà có.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Trương Thị T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” với tình tiết định khung tăng nặng “Có tính chất chuyên nghiệp” theo điểm b khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 03 – 07 năm tù là phù hợp, đúng pháp luật.
Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản mà bị cáo đã tiêu thụ cũng đã được thu hồi trả lại cho bị hại; theo điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mức hình phạt 03 năm tù đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Trương Thị T nộp các tài liệu chứng minh là lao động duy nhất đang nuôi các con ăn học, bản thân có bệnh tật, có nơi cư trú rõ ràng nhưng theo khoản 1 Điều 3 Nghị quyết “Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo” của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 thì bị cáo Trương Thị T thuộc trường hợp không cho hưởng án treo.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy rằng: Tài sản do bị cáo mua được từ các bị cáo khác chưa bán lại, bị cáo T chưa được hưởng lợi gì, tài sản đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu nên hành vi phạm tội gây thiệt hại không lớn, bị cáo hiện nay đang bị trầm cảm nặng (có xác nhận của Bệnh viện C), đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Thị T và một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa. Sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Khánh Hòa, giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.
Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 06/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Thị T và chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa, giảm hình phạt cho bị cáo Trương Thị T;
Tuyên bố: Bị cáo Trương Thị T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 323, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trương Thị T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Trương Thị T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 17 tháng 12 năm 2025).
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT I – TANDTC; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa (PC10); - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Khánh Hòa (PV06); - Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Khu vực 4 - Khánh Hòa; - TAND Khu vực 4 - Khánh Hòa; - Bị cáo kháng cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Bách |