- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Hoàng Văn T
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2024/HS-ST Ngày: 26-06-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Cát và bà Phan Thị Gấm Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Hoa - Thư ký TAND thành phố Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Bằng - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 06 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 147/2024/TLST-HS ngày 27/05/2024 tại điểm cầu trung tâm: Phòng xử án trực tuyến Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh; điểm cầu thành phần: Phòng xử án trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh N theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-HS ngày 07/06/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 2002 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn B, sinh năm 1960, con bà Trần Thị T1 (đã chết); Vợ, con: chưa có; Anh chị em ruột có 08 người, bị cáo là thứ bảy trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/04/2024 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng cuối tháng 3 năm 2024, Hoàng Văn T đi liên hoan ăn uống tại thị trấn T, huyện T gặp một người ban tên B1 (không rõ lại lịch địa chỉ), khi ngồi nói chuyện thì B1 hỏi T2: “Bạn có chơi hàng trắng không". T trả lời: “Tôi có chơi". B1 nói: "Mi có chơi thì tau cho, sau này ai cần thì gọi điện". Nói xong B1 đưa cho T 01 gói được bọc bên ngoài bằng ni lông màu trắng, bên trong được gói bằng giấy tiếp đến là chất cục bột màu trắng. T mở ra xem biết đó là ma túy nên đã gói lại vàn cất vào túi quần với mục đích sau này sẽ sử dụng. Đến 19 giờ 30 phút ngày 14/4/2024 Hoàng Văn T cầm gói ma túy đi xuống chơi người yêu tại ngõ I, đường T thuộc phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an phường Q phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái của Hoàng Văn T 01 gói ma túy được gói bên ngoài bằng bao ni lông màu trắng, tiếp đến là một lớp giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng bên trong có chứa chất cục bột màu trắng. Người và tang vật chứng được đưa về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định niêm phong lại ngày 15/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố V và kết luận giám định số 426/KL-PC09(D2-MT) ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất cục bột màu trắng thu giữ của Hoàng Văn T gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là D. Số chất cục bột màu của Hoàng Văn T có khối lượng 0,141 gam".
Quá trình điều tra, Hoàng Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với tài liệu chứng cứ khác như: Lời khai nhân chứng, vật chứng thu giữ và kết luận giám định
Vật chứng vụ án: Số ma túy Heroine thu giữ Hoàng Văn T khi bắt có khối lượng 0,141 gam, quá trình giám định đã sử dụng hết 0,10 gam còn lại 0,041 gam được niêm phong trong phong bì thư dán kín được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Tại Bản cáo trạng số 160/CT-VKS-TPV ngày 27/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Hoàng Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt Hoàng Văn T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Hoàng Văn T còn lại sau khi lấy mẫu giám định và vỏ niêm phong ban đầu; Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định; Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung:
. Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 18 giờ 30 phút, ngày 14/04/2024, tại khu vực ngõ I, đường T, thuộc phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Hoàng Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy (Heroine) có khối lượng 0,141 gam (Không phẩy một trăm bốn mươi mốt gam) để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Q, thành phố V phát hiện bắt quả tang. Như vậy, hành vi mà Hoàng Văn T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ.
. Về tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước Việt Nam đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Vì vậy cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, có thái độ khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo là thân nhân thờ cúng liệt sỹ người có công với cách mạng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
. Theo lời khai của Hoàng Văn T nguồn gốc số ma túy của T bị Cơ quan Công an thu giữ do một đối tượng tên B1 không rõ tên tuổi địa chỉ cho để sử dụng, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được. Vì vậy sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của Hoàng Văn T còn lại sau khi lấy mẫu giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vỏ niêm phong ban đầu không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Hoàng Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/04/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Hoàng Văn T
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư bưu điện được niêm phong bên trong chứa 0,041 gam ma túy H và vỏ niêm phong ban đầu. Trên các mép niêm phong có chữ ký và tên của những người tham gia niêm phong và đối tượng Hoàng Văn T (Vật chứng hiện có tại Kho vật chứng Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK 2024/198 ngày 14/06/2024).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND thành phố Vinh; - Chi cục THADS thành phố Vinh; - Công an thành phố Vinh; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | Nguyễn Thị Hồng Nhung |