- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố Tịch thu; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố Về quyền kháng cáo
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2024/HS-ST Ngày 16-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hoan
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Việt Trung
- Ông Nguyễn Văn Duyên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 177/2024/TLST – HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST – HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Đ N S, sinh năm 2005 tại Khu Kinh Trung, phường Quảng Thọ, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu Kinh Trung, phường Quảng Thọ, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Như S và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 02/5/2020 bị Công an phường Quảng Thọ, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 14/12/2020 bị Công an thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe người khác”; Ngày 27/7/2023 bị UBND phường Quảng Thọ, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn quản lý: 01 năm kể từ ngày 27/7/2023; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến nay.
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đ N S là đối tượng nghiện ma túy, đầu giờ chiều San đi bộ từ nhà trọ ở khu 10 phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh đến khu Phố Vũ, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, San gặp một người thanh niên không quen biết có biểu hiện nghiện ma túy, San hỏi mua của người đó 100 nghìn đồng ma túy tổng hợp, người này đồng ý nhận tiền và đưa ma túy cho San, San cầm gói ma túy ở tay trái rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi San đi đến khu Phố Vũ, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh thì bị lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ gói ma túy San vừa mua, San khai đó là ma túy tổng hợp mua về để sử dụng cho bản thân. Tang vật thu giữ gồm 01 túi nylon màu trắng bên trong có 01 viên nén màu đỏ, chất tinh thể màu trắng, ngoài ra Công an không thu giữ gì khác.
Tại Kết luận giám định số: 276/KL- KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
"01 viên nén màu đỏ gửi giám định có khối lượng 0,1020 gam; Là ma túy;
Loại ma túy Methamphetamine;
Chất tinh thể màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,0747 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine"
Tại bản cáo trạng số: 106/CT– VKSTPBN ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố Đ N S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Đ N S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và thừa nhận bản thân là đối tượng nghiện ma túy, mục đích mua ma túy là để sử dụng cho bản thân. Ngày 03/01/2024, San chưa kịp sử dụng ma túy thì bị bắt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Đ N S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Đ N S từ 16 đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh luận gì.
Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 03 giờ ngày 03/01/2024 tại khu Phố Vũ, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, Bắc Ninh, tổ công tác công an phường Kinh Bắc phối hợp với Công an thành phố Bắc Ninh đã phát hiện và bắt quả tang Đ N S đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1767 gam ma túy Methamphetamine, với mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó đã đủ cơ sở xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Đ N S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, làm suy kiệt sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Từ ma túy mà phát sinh thêm nhiều tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật…. Bị cáo sử dụng ma túy tổng hợp còn ảnh hưởng tới thần kinh, tâm thần gây ra ảo giác, hoang tưởng…
Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần này là lần đầu. Tuy nhiên bị cáo đã 2 lần bị xử phạt hành chính; đang trong thời gian bị UBND phường quản lý người sử dụng ma túy mà vẫn mua ma túy về sử dụng, chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Về quyết định hình phạt: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới giúp bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo phạm tội khi mới hơn 18 tuổi, suy nghĩ còn bồng bột, phạm tội nhiều khi còn do đua đòi bạn bè, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Như vậy cũng đủ sức giáo dục, răn đe đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật và vẫn có tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho San vào ngày 03/01/2024, qua xác minh tại phường Đại Phúc và các khu vực lân cận không có người nào có đặc điểm như San đã miêu tả, Công an thành phố Bắc Ninh tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét, xử lý sau là phù hợp.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đ N S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đ N S 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024
- Căn cứ: Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01(một) Phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 276/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.
Toàn bộ vật chứng nêu trên được miêu tả theo đúng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
- Về án phí: Căn cứ: Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ: Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Công an thành phố Bắc Ninh; - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh; - THA thành phố Bắc Ninh (khi án có hiệu lực); - TAND tỉnh Bắc Ninh (Phòng GĐKT); - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐBẮC NINH , TỈNHBẮC NINH BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Ngày ………. tháng ………….. năm …………………… Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoan tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo: Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: Tuyên bố: Bị cáo Đ N S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". luật hình sự. Xử phạt: Đ N S …………………………….. tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024 từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. tụng Hình sự: Kết luận giám định số 276/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. vật chứng, tài sản ngày 12/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí. Nghị án kết thúc cùng ngày cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH , TỈNH BẮC NINH BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Ngày 29 tháng 11 năm 2023; Tại: Phòng nghị án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoan - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Minh, bà Nguyễn Thị Lâm tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo: Đ N S, sinh năm 1987 Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: Tuyên bố: Bị cáo Đ N S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Đ N S 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 11/8/2023. từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. tụng hình sự: CSĐT- CAH Lương Tài Mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Đ N S, SN 1987 ở Châu Bính, Quỳ Châu, Nghệ An có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau có chữ ký của giám định viên và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh. (kèm theo kết luận giám định số 1659/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh). chứng ngày 30 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn nộp 200.000 đồng án phí HSST cho Đ N S. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí. Nghị án kết thúc cùng ngày. cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Đức Hùng Nguyễn Thị Châm TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày 05-2-2024 - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hoan Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Liên – Cán bộ hưu trí phố Bắc Ninh. Bà Phạm Thị Châm – Kiểm sát viên. thành phố Bắc Ninh, tại điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST – HS ngày 18 tháng 1 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST – HS ngày 29 tháng 1 năm 2024 đối với bị cáo: Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Hua Ca, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 3/12; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn Sọi và bà Lò Thị Thốc; Có vợ: Lò Thị Toan và 04 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2023 đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh * Người tham gia tố tụng khác: Ninh. Có mặt mặt án được tóm tắt như sau: tìm mua ma túy Heroine về sử dụng cho bản thân nên đã đi lên thành phố Bắc Giang và gặp một người phụ nữ không quen biết nói chuyện, hỏi mua được một túi ma túy Heroine với giá 200 nghìn đồng. Sau khi mua được ma túy, Thinh cất giấu và mang về nhà trọ tại Lãm Lãng, Vân Dương, thành phố Bắc Ninh. Đến khoảng trưa ngày 17/10/2023, Thinh đang đi bộ tại khu vực Lãm Làng, Vân Dương, thành phố Bắc Ninh để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Thinh đã tự nguyện giao nộp một túi nilong màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, Thinh khai đó là ma túy Heroine Thinh mua về để sử dụng cho bản thân. Tang vật thu giữ gồm 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, ngoài ra Công an không thu giữ gì khác. thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận: định có khối lượng là 0,2180 gam; là ma túy; loại ma túy: Heroine.” kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố Đ N S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và thừa nhận bản thân là đối tượng nghiện ma túy, mục đích mua ma túy là để sử dụng cho bản thân. Ngày 17/10/2023, Thinh chưa kịp sử dụng ma túy thì bị bắt. phiên tòa sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Đ N S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". luật hình sự. Xử phạt Đ N S từ 15 đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/10/2023. tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định Về án phí: Miễn nộp toàn bộ án phí HSST cho bị cáo. luận gì. về mức hình phạt người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị cáo sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế; bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo còn 4 con nhỏ cần phải nuôi dưỡng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, luôn tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của bản thân, lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ít nên đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Về các vấn đề khác, người bào chữa nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên. Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm. pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 17/10/2023, tại Lãm Làng, Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, Bắc Ninh, tổ công tác công an thành phố Bắc Ninh đã phát hiện và bắt quả tang Đ N S đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,2180 gam ma túy Heroine, với mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó đã đủ cơ sở xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Đ N S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, cần được chấp nhận. quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, làm suy kiệt sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. đồng xét xử xét thấy: sự; bị cáo phạm tội lần này là lần đầu. sự nào. cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; hình sự; bị cáo có học vấn thấp, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Xét thấy chỉ cần xử bị cáo hình phạt tù có thời hạn ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ sức giáo dục, răn đe đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật, và vẫn có tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung. và thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp. cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu, tiêu hủy. xác minh tại Công an thành phố Bắc Giang không có người nào có đặc điểm như Thinh đã miêu tả, Công an thành phố Bắc Ninh tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét, xử lý sau là phù hợp. điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên; Tuyên bố: Bị cáo Đ N S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". luật hình sự. Xử phạt Đ N S 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/10/2023. kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. tụng Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: giám định số 2122/KL-KTHS ngày 19/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. vật chứng, tài sản ngày 10/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn nộp toàn bộ án phí HSST là 200.000 đồng cho Đ N S. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoan THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hoan CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độclập- Tự do -Hạnhphúc - Các Hội thẩm nhân dân: - ……………………………………………….. - …………………………………………………. Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 177/2024/HSST ngày 19 Đ N S, Sinh năm: 2005 tại khu Kinh Trung, phường Quảng Thọ, thành phố Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH - Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ - Căn cứ: Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể - Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố Tịch thu, tiêu hủy: 01(một) Phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định theo Toàn bộ vật chứng nêu trên được miêu tả theo đúng như biên bản giao nhận - Về án phí: Căn cứ: Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố Về quyền kháng cáo: Căn cứ: Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hoan CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2023/HSST ngày 25 Nơi cư trú: Bản Chào Mờ, xã Châu Bính, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC - Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều Căn cứ: Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong, mặt trước có ghi: Cơ quan Toàn bộ vật chứng nêu trên được mô tả theo đúng như biên bản giao nhận vật Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoan CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH - Ông Đỗ Văn Sơn – Cán bộ hưu trí - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vân Thanh - Thư ký Toà án nhân dân thành - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ngày 05 tháng 2 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân Đ N S, sinh năm 1984 tại bản Hua Ca, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh * Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Trang – Trợ giúp viên pháp lý 1. Ông Đỗ Cường Dũng – Cán bộ tin học của Tòa án nhân dân thành phố Bắc 2. Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ Đ N S là đối tượng nghiện ma túy, ngày 16/10/2023 Thinh nảy sinh ý định Tại Kết luận giám định số: 2122/KL-KTHS ngày 19/10/2023 của Phòng kỹ “+ Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) túi nilong màu trắng gửi giám Tại bản cáo trạng số: 18/CT– VKSTPBN ngày 17 tháng 1 năm 2024 của Viện Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Đ N S thành khẩn khai nhận hành vi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh giữ quyền công tố tại - Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh; Bị cáo nhất trí phần bào chữa của người bào chữa, không tranh luận gì thêm. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được [1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra [2] Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ [4] Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Hội - Về nhân thân: Bị cáo Thinh là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị - Về quyết định hình phạt: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm [5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghiện ma túy, không có công việc [6]Về vật chứng của vụ án: - Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật [7] Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Thinh vào ngày 16/10/2023, qua [8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, ở xã có QUYẾT ĐỊNH: - Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ - Căn cứ: Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 ngày, - Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố 1. 01(một) Phong bì thư đựng mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận Toàn bộ vật chứng nêu trên được miêu tả theo đúng như biên bản giao nhận - Về án phí: Căn cứ: Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố Về quyền kháng cáo: Căn cứ: Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: |