- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Diễm M xin ly hôn với anh Lê Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị Diễm M về việc xin ly hôn với anh Lê Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2024/HNGĐ-ST Ngày 19 tháng 12 năm 2024 “V/v xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Cương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Phi Hùng
Ông Trần Văn Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như – Là thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 273/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc yêu cầu xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm M, sinh năm 1996 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp 16, xã KA, huyện UM, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp 7, xã TLĐ, huyện TB, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm M trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã KA, huyện UM, tỉnh Cà Mau vào ngày 24/02/2016. Trong thời gian chung sống đến nay hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, xung đột gia đình xãy ra không hàn gắn được. Nên chị và anh T đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Chị xác định hiện không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn T.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung tên Lê Trọng K, sinh ngày 03/4/2016 và Nguyễn Tường V, sinh ngày 18/8/2018. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị và anh T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh T không có nợ chung.
- Đối với anh Lê Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nội dung tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Diễm M và anh Lê Văn T được xác định là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh Lê Văn T có nơi cư trú tại xã Tân Lộc Đông, huyện Thới Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Lê Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập xét xử lần thứ hai theo quy định nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm M và anh Lê Văn T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã KA, huyện UM theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Hiện chị M yêu cầu xin ly hôn với anh T. Theo lời trình bày của chị M tại phiên tòa do vợ chồng sống không hợp nhau, và có nhiều mâu thuẫn nên anh chị đã ly thân khoảng 06 năm nay. Đồng thời, trong suốt thời gian chị Diễm M yêu cầu ly hôn tại Tòa án thì anh T không đến Tòa án để hòa giải cũng như không gửi ý kiến của mình cho Tòa án, điều đó chứng tỏ anh T cũng không có ý thức hàn gắn. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống chung giữa chị Nguyễn Thị Diễm M và anh Lê Văn T mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đựơc, hiện chị Nguyễn Thị Diễm M và anh Lê Văn T mỗi người đã có cuộc sống riêng, không ai quan tâm chăm sóc ai. Do đó, có cơ sở chấp nhận lời trình bày và yêu cầu của chị Diễm M về việc xin ly hôn với anh T.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Diễm M và anh Lê Văn T có 02 con chung tên Lê Trọng K, sinh ngày 03/4/2016 và Nguyễn Tường V, sinh ngày 18/8/2018. Khi ly hôn chị M yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung. Xét thấy, cháu K và cháu V hiện đang sống cùng chị M và từ khi ly thân đến nay anh T không tới lui thăm nom nên nên tiếp tục giao hai con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Lê Văn T không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung: Chị Diễm M xác định không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Chị Diễm M khai không nợ ai nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Diễm M phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 207, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, Mễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị Diễm M về việc xin ly hôn với anh Lê Văn T.
Về con chung: Giao con chung tên Lê Trọng K, sinh ngày 03/4/2016 và Nguyễn Tường V, sinh ngày 18/8/2018 cho chị Nguyễn Thị Diễm M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chị M không đặt ra yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lê Văn T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung; nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, chị Nguyễn Thị Diễm M phải chịu. Chị Diễm M đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0016497 vào ngày 11/10/2024 được đối trừ, chị Diễm M đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Nguyễn Thị Diễm M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Văn T quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Thới Bình; - UBND xã KA, huyện UM, tỉnh Cà Mau; - Đương sự; - Lưu Hồ sơ; VT. | ( Đã ký) Phạm Kim Cương |