vanban.org

Bản án 168/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 19/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Đăng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt Trần Đăng L 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 9/03/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đăng L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2023/HSST
Ngày: 19/07/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lập

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Sơn

Ông Vương Đình Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 07 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên toà xét xử trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 166/2023/TLST-HS ngày 23/6/2023. Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2023/QĐXX ngày 04/7/2023 đối với bị cáo:

Trần Đăng L. sinh năm 1986; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố D, phường T, quận N, thành phố H. Nơi ở: Tổ dân phố L, phường T, quận N, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đăng T1, sinh năm 1961 và bà Nghiêm Thị C, sinh năm 1965. Tiền án, tiền sự theo Danh chỉ bản số 000000225 lập 17/03/2023 tại Công an quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội và lý lịch cá nhân bị cáo L không có tiền án, tiền sự. Nhân thân bị cáo có Bản án số 463/2019/HS-PT ngày 28/6/2019, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chât ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/02/2020, thi hành án phí HSST ngày 26/4/2019 nên đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 9/03/2023 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội, Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 3/2023, thông qua mạng xã hội Facebook, L đến khu vực cổng Trung tâm Hội Nghị Quốc Gia trên đường Đ mua 2.000.000 đồng ma túy đá của một người đàn ông tên T có số điện thoại 0982112686. Sau khi mua được ma túy, L mang về nhà tại TDP L, phường T, quận N, thành phố H chia ra 03 túi nilon nhỏ để bán, L đã bán được 2 túi với giá 300.000 đồng/1 túi cho một người phụ nữ không quen biết, còn 01 túi đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/3/2023 có một nam thanh niên sử dụng số điện thoại 0974839127 gọi điện đến số điện thoại 0339529593 của L hỏi mua 500.000 đồng ma túy “đá”, L đồng ý hẹn gặp tại ngõ 135 phố C, phường T, quận N, thành phố H để giao dịch. L lấy túi ma túy “đá” còn lại mang ra đầu ngách 8 ngõ 135 phố C cài trên bờ tường giấu sau tấm biển báo “Ngách 8 Thôn Lò” rồi đứng đợi khách, khi cả 2 đang đứng cạnh nhau chuẩn bị giao dịch mua bán ma túy thì bị tổ công tác Công an phường Đại Mỗ kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 túi nilong màu trắng (KT 2 x 1,5cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Iphon 7 màu trắng, gắn sim 0339529593. 01 điện thoại Nokia 1280 màu xanh gắn sim số 0974839127; Số tiền 500.000đồng.

Tại Bản Kết luận giám định số 1484/KL-KTHS ngày 17/3/2023 của Phòng KTHS – CATP Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,193 gam.

Tại cơ quan điều tra, Trần Đăng L đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đối với việc L khai trước đó đã bán 2 gói ma tuý cho một người phụ nữ không quen biết, ngoài lời khai của L, quá trình điều tra không có căn cứ xác định L bán ma túy nhiều lần.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho L tên là T sử dụng số điện thoại 0982112686. Do L không biết tên tuổi và địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ. Đối với người gọi mua ma túy sử dụng số điện thoại 0974839127 xác định chủ thuê bao đứng tên Nguyễn Thị T2 (sinh ngày 20/9/1975 – NKTT: xã H, huyện Y, tỉnh N). Quá trình điều tra chị T2 không đăng ký, sử dụng số thuê bao 0974839127 và không biết ai đang sử dụng. Vì vậy, CQĐT không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Bản cáo trạng số 160/CT-VKS ngày 21/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố: Bị cáo Trần Đăng L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Trần Đăng L thừa nhận hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm trong phần luận tội giữ nguyên Quyết định truy tố tại bản Cáo trạng 160/CT-VKS ngày 21/6/2023 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Đăng L mức án từ 30 đến 36 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 1 (một) phong bì niêm phong dán kín, trên mép dán có chữ ký niêm phong của Trần Đăng L, cán bộ công an phường Đại Mỗ, Giám định viên phòng PC09- CATP Hà Nội; Tịch thu sung quỹ Nhà Nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Nokia 1280 màu xanh, 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 màu trắng và số tiền 500.000đồng.

Lời nói sau cùng bị cáo Trần Đăng L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Trần Đăng L tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với các biên bản phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, Bản kết luận giám định số 1484/KL-KTHS ngày 17/03/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hà Nội và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17h20' ngày 09/3/2023, tại ngõ 22 đường T, phường T, quận N, thành phố H, Trần Đăng L đang có hành vi mua bán trái phép 0,193 gam ma túy loại Methamphetamine cho một nam thanh niên không rõ nhân thân lai lịch thì bị tổ công tác Công an phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của Trần Đăng L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Trần Đăng L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đăng L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý về chất ma túy của Nhà Nước, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong trong quần chúng nhân dân. Bị cáo L là đối tượng nghiện hút, đã bị xử phạt tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng khi ra trại bị cáo không cai nghiện, làm ăn lương thiện, để có tiền mua ma túy sử dụng bị cáo đã mua bán trái phép chất ma túy bất chấp pháp luật nên đối với bị cáo phải xử lý nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng, và phòng ngừa chung.

Khi lượng hình phạt cũng xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo để cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, kinh tế khó khăn vì vậy Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đang quản lý gồm: 01 phong bì niêm phòg dán kín, có chữ ký của Trần Đăng L, cán bộ công an phường Đ và giám định viên đây là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia 1280 màu xanh; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphon 7 màu trắng và số tiền 500.000 đồng. Xét đây là công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội, tiền sử dụng vào việc phạm tội thu giữ của Trần Đăng L và đối tượng mua ma túy vứt lại khi bỏ chạy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà Nước. Việc xử lý vật chứng trên theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Trần Đăng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Trần Đăng L 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 9/03/2023.

Vật chứng: Tich thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín, có chữ ký của Trần Đăng L, cán bộ công an phường Đ, Giám định viên phòng PC09-CATP Hà Nội. Tịch thu sung quỹ Nhà Nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia 1280 màu xanh, 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 màu trắng và số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Các vật chứng trên hiện hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đang quản lý theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 22/6/2023 và Biên bản giao vật chứng số 210 ngày 23/6/2023.

Bị cáo Trần Đăng L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ