- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Đinh Mỹ B "Tranh chấp hợp đồng xây dựng công trình nhà ở" Cao Văn A"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận một phần kháng cáo của ông Cao Văn A.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Luật Xây dựng; Điều 140 Luật Xây dựng
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2023/DS-PT Ngày: 12-5-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh.
Các Thẩm phán:
1. Ông Trần Văn Quán.
2. Ông Trần Tấn Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Thanh – Thẩm tra viên Tòa
án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung – Kiểm sát viên.
Vào ngày 08 và ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Long An mở phiên toà để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số
267/2022/TLPT-DS ngày 08 tháng 8 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng thi
công xây dựng công trình nhà ở”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 47/2022/DS-ST ngày 21-6-2022 của Toà án
nhân dân huyện Y bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 289/2022/QĐ-PT ngày
26 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 126/2023/QĐ-
PT ngày 20 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đinh Mỹ B, sinh năm 1979.
Địa chỉ: 397, ấp Thạnh Lợi, xã X, huyện Y, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Cao Văn A, sinh năm 1955.
Địa chỉ: 138B, ấp Bình Lợi, xã X, huyện Y, tỉnh Long An.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Cao Khánh C, sinh năm 1980.
Địa chỉ: 138B, ấp Bình Lợi, xã X, huyện Y, tỉnh Long An.
3.2. Ông Võ Thanh D, sinh năm 1979.
Địa chỉ: 397, ấp Thạnh Lợi, xã X, huyện Y, tỉnh Long An.
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Lê Văn D, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Số 184, ấp Bình Lợi, xã X, huyện Y, tỉnh Long An.
4.2. Ông Phạm Thanh E, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Số 59/3, khu phố Bình Lợi, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Long An.
4.3. Ông Nguyễn Văn F, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Số 75/3, khu phố Bình Lợi, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Long An.
4.4. Bà Trần Thị Tuyết G, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Số 59/3, khu phố Bình Lợi, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Long An.
Người kháng cáo: Ông Cao Văn A.
(Bà B, ông A, ông D có mặt tại phiên tòa; các đương sự còn lại vắng mặt tại
phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/01/2022, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng
như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đinh Mỹ B trình bày: Ngày 02/02/2021, bà và ông Cao Văn A có ký kết hợp đồng xây dựng với nội dung là ông A thầu xây dựng công trình nhà ở của bà theo bản thiết kế đã có sẵn, phần bên trong có sự thay đổi theo ý thích của chủ nhà và làm thêm phần nhà sau, bó hè, cán sân trước; giá trị tiền công thợ trọn gói là 320.000.000 đồng cho đến khi hoàn thiện xây dựng và giao nhà. Bà đã giao cho ông A đủ số tiền 320.000.000 đồng và trong quá trình xây dựng ông A đã ứng thêm 50.000.000 đồng, tổng cộng là 370.000.000 đồng. Trong đó, số tiền 100.000.000 đồng bà B đưa cho con của ông A là Cao Khánh Thiện nhận, ông Thiện nhận số tiền này sử dụng vào mục đích gì bà không biết. Sau này, ông A nói với bà là trừ số tiền 100.000.000 đồng này vào tiền công thợ. Từ ngày 30/10/2021 ông A yêu cầu ứng thêm tiền công thợ mỗi tuần, bà không đồng ý nên ông A thi công kéo dài, một tuần chỉ thi công từ 01 đến 02 ngày và chỉ có 03 người làm mỗi ngày. Vì ông A làm chậm tiến độ xây dựng nên ảnh hưởng đến chất lượng vật tư: ximăng bị chết, sắt bị gỉ sét và vật tư tăng giá.
Ngày 04/01/2022, ông A tự ý cho nhân công về và thu dọn trang thiết bị
máy móc khỏi công trình xây dựng. Tại thời điểm ông A dọn đồ đi thì công trình nhà của bà vẫn còn đang dang dở: chưa lợp ngói, chưa đổ hoàn thiện 03 cái vòm, chưa chạy điện nước, chưa tô, chưa sơn, chưa lát gạch, chưa dán gạch, chưa trán bó hè, chưa cán sân. Vợ chồng bà nhiều lần gọi điện thoại cho ông A để năn nỉ ông A tiếp tục thi công cho kịp ngày dọn vô nhà ở nhưng ông A không chịu tiếp tục thi công nữa, bỏ công trình nhà của bà dang dở. Ngày 09/01/2022, vợ chồng bà đã đến nhà ông A gặp ông A để bàn chuyện tiếp tục thi công nhưng ông A trả lời không làm nữa. Hoàn toàn không có việc ông A gọi điện thoại cho bà và bà nói với ông A là đã thuê thợ mới. Vì đến ngày 21/01/2022 thầu mới bắt đầu thi công tiếp tục công trình, ngày 26/01/2022, vợ chồng bà B mới ký kết hợp đồng xây dựng mới với chủ thầu Trần Minh Mẫn. Vì vậy, bà làm đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng xây dựng xác lập ngày 02/02/2021 giữa bà và ông Cao Văn A,
yêu cầu ông Cao Văn A bồi thường số tiền 200.000.000 đồng, gồm số tiền
50.000.000 đồng ông A đã nhận dư và 150.000.000 đồng là bồi thường do ông A
làm chậm tiến độ xây dựng gây thiệt hại cho bà.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/6/2022, nguyên đơn bà Đinh Mỹ B thay
đổi yêu cầu khởi kiện, bà không yêu cầu ông A trả lại số tiền 50.000.000 đồng
ông A đã ứng dư. Vì ông A tự ý chấm dứt thực hiện hợp đồng đã ký kết, vợ
chồng bà B phải tốn chi phí để thuê thầu mới tiếp tục thi công trình đến khi hoàn
tất với tiền công thợ thi công phần nhà chính là 235.000.000 đồng, thi công phần
nhà phụ là 50.000.000 đồng, tổng cộng là 285.000.000 đồng. Bà yêu cầu ông
Cao Văn A bồi thường cho bà số tiền 200.000.000 đồng là số tiền thiệt hại do
ông A ngừng thi công công trình nhà, bà phải bỏ tiền ra để thuê thợ mới tiếp tục
thi công đến hoàn thiện công trình.
Bị đơn ông Cao Văn A trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như
tại phiên tòa như sau:
Ngày 02/02/2021, ông và bà Đinh Mỹ B có ký kết hợp đồng xây dựng với
nội dung như bà B trình bày. Mặc dù người ký kết hợp đồng là bà Đinh Mỹ B
nhưng thực tế người thỏa thuận, bàn bạc, trao đổi với ông là Út Ba (tức là ông
Võ Thanh D – chồng của bà Đinh Mỹ B). Trong suốt quá trình thi công công
trình thì ông D trực tiếp ở công trình để giám sát, không ngày nào ông D vắng
mặt. Trong quá trình thi công công trình đã phát sinh thêm ngoài hợp đồng, cụ
thể như sau:
+ Bên hông ngang 3,48m; dài 15,40m là 53,59m2; phần này mặt trước có đổ
vòm;
+ Phía sau: ngang 4,10m; dài 10,68m là 43,79m2.
+ Tam cấp: ngang 1,20m; dài 3,48m là 4,42m2.
Tổng diện tích phát sinh là 101,80m2.
Phần diện tích chính làm theo bản vẽ thiết kế đã có, phần phía sau phát sinh
đã được thỏa thuận trong hợp đồng nên phần thêm phía sau đã được chuyển đến
sau cuối của công trình. Trong thời gian thi công vì đã phát sinh thêm nhiều hơn
so với bản vẽ thiết kế nên ông có thỏa thuận với ông D về tiền công thợ của công
trình là 570.000.000 đồng, ông D đồng ý nên ông A mới đồng ý làm tiếp. Ngoài
ra, trong quá trình thi công ông còn thi công công trình khác cùng lúc, việc này
vợ chồng ông D cũng biết và đồng ý. Về tiền công thợ thì ông trả công cho thợ
chính là 400.000 đồng - 500.000 đồng/ngày, thợ phụ từ 330.000 - 380.000
đồng/ngày.
Tổng số tiền ông đã ứng của bà B và ông D tính đến ngày 30/10/2021 là
364.355.000 đồng. Trong đó, có số tiền 100.000.000 đồng do con của ông là Cao
Khánh Thiện nhận thay ông và cũng đã đưa lại số tiền này cho ông. Trong thời
gian thi công công trình nhà ở của bà B có thời gian gián đoạn do nghỉ dịch
Covid-19, đến ngày 08/11/2021 ông vẫn cho thợ tiếp tục thi công đến ngày
01/01/2022, là ngày đổ bê tông sàn mái nhà chính xong, ông ứng tiền công thợ
nhưng ông D nói để hỏi lại vợ, sau đó cũng không ứng được tiền. Đến ngày
04/01/2022, giữa thợ và ông D xảy ra cự cãi, lúc này ông A không có mặt, sau khi xảy ra cự cãi thì ông D không cho thợ làm nữa. Ngày hôm sau là ngày 05/01/2022, ông A có chở máy trộn hồ đi cho em của ông cũng là thầu xây dựng mượn. Đến ngày 09/01/2022, ông có gặp vợ chồng ông D để bàn bạc thống nhất tiếp tục thi công. Sau đó, ông có liên lạc với vợ chồng ông D để báo là ngày mai ông cho thợ đến công trình tiếp tục thi công, thì bà B nói với ông là đã kêu thợ khác thi công, ông A nói với bà B “như vậy là vợ chồng em hủy hợp đồng trước, chứ anh không hủy hợp đồng trước”. Đến ngày 16/01/2022, ông gọi điện thoại báo cho vợ chồng ông D ngày mai sẽ dọn đồ đi, thời gian ông A dọn đồ đi từ ngày 16 đến ngày 18/01/2022, chỉ có mặt bà B, không có mặt ông D. Nay bà B khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng xây dựng ký kết ngày 02/02/2021, ông A cũng đồng ý hủy hợp đồng nhưng do phía bà B hoàn toàn có lỗi khi tự ý chấm dứt hợp đồng trước, ông hoàn toàn không có lỗi. Sau ngày 30/10/2021 thì bà B không trả tiền công thợ cho ông nữa nên ông phải tự bỏ ra số tiền 68.000.000 đồng để trả tiền công thợ. Vì vậy, ông không đồng ý bồi thường thiệt hại như yêu cầu khởi kiện của bà B.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày như sau:
Ông Cao Khánh C trình bày: Trong quá trình thi công nhà của bà B, ông có
nhận của bà B 100.000.000 đồng, trong đó số tiền 20.000.000 đồng là tiền cọc, ông nhận từ bà B vào ngày ký hợp đồng, ông đếm đủ tiền rồi đưa lại cho ông A ngay. Số tiền còn lại ông nhận nhiều lần, do cha ông là ông Cao Văn A nhờ lấy dùm, sau đó ông đã đưa số tiền này cho ông A để trả tiền công thợ. Ông hoàn toàn không ứng tiền của bà B để hạ bình điện hay dùng vào mục đích cá nhân hay cho công trình khác như bà B trình bày.
Ông Võ Thanh D trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Đinh
Mỹ B. Tuy nhiên, hoàn toàn không có việc ông cự cãi, đuổi thợ về như ông A trình bày. Ông A muốn làm thì làm, muốn nghỉ thì nghỉ, vợ chồng ông phải năn nỉ ông A đến làm để kịp ngày vợ chồng ông dọn vô ở. Khoảng ngày 03/01/2022, ông có mặt giám sát việc thi công công trình, ông không vừa ý với một người thợ nên có chửi tục một câu rồi bỏ đi vô nhà, hoàn toàn không có tranh cãi gay gắt và cũng không đuổi thợ về không cho làm nữa. Sau đó, ông A tự ý bỏ, không cho thợ đến thi công công trình nhà của ông nữa, vợ chồng ông nhiều lần gọi điện thoại để kêu ông A tiếp tục thi công nhưng ông A không bắt máy hoặc nói là đang đi xa, không về được. Đến ngày 09/01/2022, ông và bà B có đến nhà của ông A năn nỉ ông A tiếp tục thi công để ông bà kịp dọn vô nhà ở, nhưng ông A trả lời là không tiếp tục thi công nữa. Tại thời điểm ông A bỏ công trình thì vợ chồng ông vẫn chưa kêu thợ mới như ông A trình bày. Đến sau ngày 18/01/2022, sau khi Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ thì vợ chồng ông mới kêu thợ mới thi công công trình. Vì vậy, ông đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà B, buộc ông A phải bồi thường thiệt hại số tiền 200.000.000 đồng.
Vụ án đã được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các
đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đã xác định theo Biên
bản lấy lời khai ngày 13/6/2022, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày.
Những người làm chứng theo yêu cầu của bị đơn ông Cao Văn A có mặt tại
phiên tòa gồm ông Lê Văn Tuấn, ông Phạm Thanh E, ông Nguyễn Văn F, bà
Trần Thị Tuyết G trình bày nội dung như sau:
Các ông bà đều xác định ngày 04/01/2022, tổng cộng có 05 người làm gồm
ông D, ông E, ông F, bà G và một thợ chính là ông Lê Văn Lực. Khi đang thi
công thì giữa ông Võ Thanh D có xảy ra mâu thuẫn với ông Lực và ông D có
chửi thề một câu sau đó bỏ vô nhà, không quay ra coi thợ nữa. Các ông bà không
tiếp tục làm nữa mà chờ ông A đến, các ông bà chứng kiến ông A có gọi điện
thoại cho ông D nhưng ông D không bắt máy. Sau đó, ông A không kêu thợ đến
làm công trình nhà bà B nữa.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 47/2022/DS-ST ngày 21-6-2022 của Toà án
nhân dân huyện Y đã căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, Điều 94, 97, 147, 156, 157, 158, 177, 235, 244, 483 của Bộ
luật Tố tụng dân sự; Điều 402, 410, 419, 422, 423, 427, 428 của Bộ luật Dân sự
năm 2015; Điều 138, 140, 145 của Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ
sung năm 2020; Điều 6, 12, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Mỹ B về “tranh chấp hợp
đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” đối với ông Cao Văn A.
Hủy Hợp đồng xây dựng ngày 02/02/2021 ký kết giữa bà Đinh Mỹ B và
ông Cao Văn A.
Ông Cao Văn A có nghĩa vụ bồi thường cho bà Đinh Mỹ B số tiền
200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí:
Bà Đinh Mỹ B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho bà B
số tiền 5.000.000 đồng tạm ứng án phí bà B đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng
án phí, lệ phí Tòa án số 0007132 ngày 17/01/2022 tại Chi cục Thi hành án
Dân sự huyện Y, tỉnh Long An.
Ông Cao Văn A được miễn nộp tiền án phí.
Ngoài ra, án còn tuyên về quyền kháng cáo; quyền, nghĩa vụ của các bên ở
giai đoạn thi hành án.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 30/6/2022, ông Cao Văn A kháng cáo không đồng ý toàn bộ bản án
sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên không thỏa thuận được với nhau, nguyên
đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn không rút yêu cầu kháng cáo và các đương sự tranh luận như sau:
Ông Cao Văn A tranh luận: Nếu ông D nói ông làm có mấy ngày thì không
đúng vì ông làm thời gian rất dài tới ngày 01/01 mới xong. Ngày 02, 03, 04 ông tiếp tục làm bình thường, không có ý định bỏ. Bà B nói có năn nỉ ông làm lại là không đúng nếu ông muốn bỏ thì sẽ không làm những phần khó trước. Những lúc ông ứng tiền là ông D đều hỏi lại vợ, nhưng bà B cứ nói là chưa có tiền nên ông tự xuất tiền túi ra làm. Đến ngày 04/01, có sự cố ông mới ngưng. Nếu không có phát sinh thêm ông ký hợp đồng với giá 320.000.000 đồng là ông chỉ đủ tiền công thợ và không có lời. Phần phát sinh ông có nói với ông D là 650.000.000 đồng nhưng nghĩ chỗ quen nên lấy 600.000.000 đồng và cuối cùng chốt với giá là 570.000.000 đồng. Ông cũng không có mượn tiền bà B mà lấy tiền hàng tuần để trả công thợ. Ông đề nghị bà B, ông D nói cho chính xác, đề nghị Tòa án xem xét.
Bản vẽ chính là có sau đó, có thay đổi thì ông cũng có vẽ lại cho ông D
xem, ông D thống nhất mới thực hiện chứ đâu phải tự ông làm. Việc thi hành công nhà có kích thước như hiện nay (lớn hơn bản vẽ mà ông D đưa) và ông cũng làm đến hơn 1 tháng sau thì ông và ông D có thoả thuận để nâng giá thi công lên 570.000.000 đồng, không thừa nhận có lỗi là không thoả thuận giá 570.000.000 đồng trước khi thi công nhà.
- Ông Võ Thanh D tranh luận: Ông và ông A thỏa thuận thống nhất hết mới
ký hợp đồng, nhà hoàn chỉnh luôn chứ không phải ký thêm như ông A trình bày. Bản vẽ bản đầu khi ký hợp đồng thể hiện diện tích nhà nhỏ hơn diện tích xây dựng thực bên ngoài là do làm bản vẽ nhỏ cho ít tốn tiền nhưng trước khi làm đã thoả thuận với ông A xây dựng nhà có diện tích như thực tế hiện nay.
Bà Đinh Mỹ B tranh luận: Bản vẽ chính không thay đổi gì cả, còn phần
thêm là thỏa thuận bên ngoài. Ông A đã tự ý dọn đồ thi công về, không làm tiếp, đây là lỗi của ông A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:
- Về pháp luật tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện đúng pháp luật về tố
tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo tố tụng. Các bên đương sự thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ của mình. Kháng cáo hợp lệ đủ điều kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung kháng cáo:
Hợp đồng ký kết ngày 02/02/2021 giữa bà Đinh Mỹ B và ông Cao Văn A
thể hiện nội dung công việc được các bên thỏa thuận là ông A thầu xây dựng công trình nhà ở của bà B theo bản thiết kế đã có sẵn, phần bên trong có sự thay đổi theo ý thích của chủ nhà và làm thêm phần nhà sau, bó hè, cán sân trước. Giá
trị của hợp đồng là tiền công thợ cho đến khi hoàn thiện xây dựng và giao nhà là
320.000.000 đồng, các bên không thỏa thuận thời hạn thi công là bao lâu.
Bản thiết kế có sẵn mà các bên dự định xây dựng là bản thiết kế của Công
ty cổ phần kiến trúc và xây dựng Maxhome Viet Nam thể hiện mặt bằng xây
dựng được mô tả là ngang 7,2m dài 15,4m có một phòng khách, 02 phòng ngủ,
phòng bếp và ăn chung, 02 nhà vệ sinh.
Như vậy, Hợp đồng ký kết giữa bà Đinh Mỹ B và ông Cao Văn A ngày
02/02/2021 được xác định theo tính chất, nội dung công việc thực hiện là hợp
đồng thi công xây dựng công trình nhà ở và theo hình thức là hợp đồng trọn gói
theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 140 của Luật Xây dựng năm 2014 được
sửa đổi, bổ sung năm 2020. Hợp đồng ngày 02/02/2021 được ký kết bởi các chủ
thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, hợp
tác, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Tuy nhiên, thực tế các bên đã không thi công đúng theo bản vẽ và đã phát
sinh tăng, đồng thời có sự cự cải giữa chủ nhà và anh em công thợ. Việc này các
bên đương sự đều có thừa nhận. Vì vậy, có cở sở xác định sau khi xảy ra cự cãi
giữa ông D và thợ của ông A đã không thống nhất được với nhau về việc xây
dựng nhà, đây là lỗi của cả hai bên vì đã không rõ ràng trong việc giải quyết dứt
điểm hợp đồng cũng như xác định tiền công xây dựng, tiền đã thanh toán…
Sau đó, phía bà B, ông D kêu thợ khác đến xây tiếp để hoàn thiện căn nhà
và căn cứ vào số tiền thầu mới xây hoàn thiện 235.000.000 đồng nên yêu cầu
Ông Cao Văn A có nghĩa vụ bồi thường cho bà Đinh Mỹ B số tiền 200.000.000
đồng (hai trăm triệu đồng).
Việc bà B yêu cầu số tiền 200 triệu trên cơ sở số tiền bà đã trả cho thầu xây
sau đó là không có cơ sở khoa học để xem xét, án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của
bà B là chưa phù hợp. Các đương sự đã có sự thống nhất về việc ông A đã xây
dựng nhà cho bà B các bên có quay phim chụp ảnh để lại làm bằng chứng cho
việc đã xây dựng, Toà án cấp sơ thẩm đã hai lần đến thẩm định tại chỗ để xem
xét hiện trạng, đây là căn cứ để các bên làm cơ sở xem xét giải quyết yêu cầu
tranh chấp.
Từ các Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 18/01/2022 và ngày
29/3/2022 thấy rằng, tại thời điểm bà B khởi kiện thì công trình thi công nhà ở
của bà B đang dang dở, chưa hoàn thiện nhưng ông A đã dọn hết công cụ thi
công như máy trộn hồ và các công cụ khác.
Theo Hợp đồng xây dựng ngày 26/01/2022 ký kết giữa vợ chồng bà B và
chủ thầu mới là ông Trần Minh Mẫn, cùng với lời khai của ông Mẫn tại Biên bản
lấy lời khai ngày 20/5/2022 thì đến ngày 21/01/2022 mới khởi công xây dựng
tiếp tục công trình còn đang dang dở.
Tại phiên toà ngày 16/9/2022, ông A kháng cáo và phiên toà dừng lại để
tiến hành yêu cầu Cty cổ phần tư vấn xây dựng Minh Long Lập dự toán thiết kế
xây lắp phần thô, hầm tự hoại, hồ nước ngầm đây là phần ông A đã thi công cho
gia đình ông D, bà B với chi phí nhân công và chi phí máy là 239.688.553+90.150.182 = 329.838.735 đồng; đây là cơ sở khoa học và khách quan để xác định phần ông A đã xây dựng nhà cho bà B.
Về tiền công thợ đã ứng khi làm nhà: theo lời trình bày của bà B, ông D xác
định ông A đã nhận tiền công thợ tổng cộng là 370.000.000 đồng nhưng ông A cho rằng tính đến ngày 30/10/2021 ông đã nhận số tiền công thợ là 364.355.000 đồng. Ông A có cung cấp các giấy nhận tiền của bà B, còn bà B cho rằng đã đưa ứng 370.000.000 đồng thì chỉ nói bằng lời mà không có căn cứ chứng minh. Do đó cần chấp nhận số tiền đã ứng như ông A xuất trình chứng cứ là 364.355.000 đồng.
Ông A cho rằng trong quá trình thi công đã thỏa thuận lại với ông D và bà B
số tiền công thợ là 570.000.000 đồng sau khi có phát sinh tăng, nhưng bà B và ông D không thừa nhận. Lời trình bày của ông A là có căn cứ chấp nhận, bởi các lẽ sau:
+ Thứ nhất, căn cứ vào bản vẽ tại (bút lục 129), đây là bản vẽ ban đầu mà
hai bên ký kết giá 320 triệu nhưng thực tế khi đi vào thi công thì đã không đúng với kích thước theo bản vẽ cũ. Căn cứ vào bản vẽ hiện trạng kiến trúc mà Cty cổ phần tư vấn xây dựng Minh Long lập thì thể hiện chiều ngang ngôi nhà bản vẽ cũ là 7,2m, chiều dài là 15,4m trong khi hiện trạng Công ty Minh Long đo thẩm định là ngang 10,7m, chiều dài là 23,3m. Như vậy, đã phát sinh tăng là 249,31m2 -110,88m2 = 138,43m2.
+ Thứ hai, giá hợp đồng 320 triệu là thi công theo bản vẽ cũ, nếu như không
có thoả thuận lại thì làm gì có việc bà B chủ nhà cho ứng thêm 50 triệu đồng sau cùng lúc đó nó đã vượt 320 triệu ban đầu trong khi chỉ mới xây xong phần thô.
+ Thứ ba, theo Công ty Minh Long làm dự toán phần ông A đã xây có tổng
giá trị là 329.838.735 đồng nếu cộng thêm phần ông thầu Trần Minh Mẫn đã xây hoàn thiện là 235.000.000 đồng thì tổng công trình hoàn thành cũng ở giá gần 565.000.000 đồng có cơ sở phù hợp với lời trình bày của ông A về tổng giá trị nhà là 570 triệu đồng khi ông A thoả thuận lại với ông D, bà B nhưng ông A đã thiếu sót khi không làm giấy tờ lại.
Do đó, cơ sở để xem xét giải quyết yêu cầu của bà B là căn cứ vào bản dự
toán đã thể hiện phần giá trị ông A đã bỏ ra xây dựng cho nhà bà B là 329.838.735 đồng. Do ông A đã ứng là 364.355.000 đồng nên ông A có trách nhiệm hoàn trả phần chênh lệch cho bà B 34.516.265 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông A.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự cải sửa bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về thủ tục tố tụng:
[1.1 Ông Cao Văn A kháng cáo trong thời hạn luật định là hợp lệ, đúng thủ
tục tố tụng nên được chấp nhận xem xét lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Bị đơn Cao Văn Tỷ có nơi cư trú tại huyện Y nên Tòa án nhân dân
huyện Y, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp:
Tại phiên tòa phúc thẩm, tất cả các đương sự đều thống nhất với nhau
các nội dung sau:
- Bà Đinh Mỹ B và ông Cao Văn A xác lập Hợp đồng xây dựng ngày
02/02/2021 (nhầm ngày 21/12/2020 âm lịch), theo đó ông A có trách nhiệm “xây
nhà làm theo bản vẽ đã có và phần bên trong có sự thay đổi theo sở thích của
chủ nhà và có làm thêm khúc nhà bên sau + bó hè + cán sân phía trước theo sự
bàn bạc và thống nhất. Tổng giá trị tiền công khi hoàn thiện giao nhà là
320.000.000 đồng giá trị thanh toán tiền thợ lấy tiền vào ngày thứ bảy mỗi
tuần…”.
- Bản vẽ nhà khi ký kết hợp đồng nêu trên do ông D, bà B cung cấp có kích
thước 7,2m, chiều dài là 15,4m nhưng thực tế thi công nhà có kích thước ngang
10,7m, chiều dài là 23,3m.
- Ông Cao Văn A thừa nhận đã nhận 364.355.000 đồng (lần cuối vào ngày
30/10/2021) và ngừng thi công vào ngày 04/01/2022 khi chỉ mới hoàn thành
phần thô căn nhà thỏa thuận xây cho bà B.
- Vào ngày 04/01/2022, ông Võ Thanh D (chồng bà B) có cự cải với ông Lê
Văn Lực (thợ làm công cho ông Cao Văn A) đang xây dựng nhà cho bà B, ông D
tại thời điểm đó.
Trên đây là các tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015.
Từ sự thừa nhận, thống nhất như trên của các đương sự có cơ sở khẳng
định có sự tăng thêm khối lượng thi công căn nhà cho ông D và bà B nhưng
không được ông D và bà B thừa nhận có việc thoả thuận giá thi công căn nhà lên
tới 570.000.000 đồng. Sau đó, các bên mâu thuẫn dẫn đến chấm dứt thi công
công trình nhà ở của ông D và bà B. Do đó, lập Hợp đồng xây dựng ngày
02/02/2021 không còn hiệu lực ràng buộc các bên do các bên không thực hiện
đúng thoả thuận được ghi trong hợp đồng (mặc dù trong hợp đồng không ghi bản
vẽ nhưng hai bên thừa nhận có bản vẽ ban đầu do ông D cung cấp). Do vậy, cần
căn cứ vào thực tế khối lượng mà ông A đã thi công cho công trình nhà ở của
ông D, bà B và số lượng tiền mà ông A tạm ứng của ông D, bà B để giải quyết.
Tại phiên toà phúc thẩm, hai bên đương sự thống nhất với Báo cáo dự
toán thiết kế của Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng Minh Long lập năm 2023 thì
chi phí nhân công và chi phí máy là 239.688.553+90.150.182 = 329.838.735
đồng tính tới thời gian ông A chấm dứt thi công công trình. Tuy nhiên, ông A đã
nhận tạm ứng của ông D, bà B số tiền 364.355.000 đồng. Do đó. Ông A phải
hoàn trả lại cho ông D, bà B số tiền 34.516.265 đồng như đại diện Viện kiểm sát
đề nghị tại phiên toà là có căn cứ.
Việc ông D, bà B tự thuê thợ khác thi công hoàn thành công trình
không có sự thống nhất với ông A nên không thể lấy giá thuê do ông D, bà B
thoả thuận để buộc ông A phải chịu; đồng thời chấm dứt thi công công trình hai
bên cũng không có biên bản thanh lý hợp đồng và nhiệm thu khối lượng công
việc.
Từ đó, kháng cáo của ông Cao Văn A là không có cơ sở chấp nhận một
phần; lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An hoàn toàn có căn cứ nên chấp nhận.
Về chi phí tố tụng: Khi chấm dứt thực hiện hợp đồng xây dựng ngày
02/02/2021 khi ngừng thi công các bên cũng không nhiệm thu khối lượng công việc dẫn đến phải tiến hành kiểm định là lỗi của hai bên nên mỗi bên chịu một phần hai chi phí kiểm định.
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần, đồng
thời ông Cao Văn A trên 60 tuổi là người cao tuổi nên được miễn theo Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các khoản khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ có
hiệu lực sau khi hết thời gian kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 293, 296 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Không chấp nhận một phần kháng cáo của ông Cao Văn A.
Cải sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 47/2022/DS-ST ngày 21-6-2022
của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Long An.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 94, 97, 147, 148, 156, 157, 158, 177, 235, 244, 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 402, 410, 419, 422, 423, 427, 428 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 138, 140, 145 của Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 6, 12, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Mỹ B về “tranh chấp
hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở” đối với ông Cao Văn A.
[1] Chấm dứt Hợp đồng xây dựng ngày 02/02/2021 ký kết giữa bà Đinh Mỹ
B và ông Cao Văn A.
[2] Buộc ông Cao Văn A có nghĩa vụ bồi thường cho bà Đinh Mỹ B số tiền
34.516.265 đồng (ba mươi bốn triệu, năm trăm mười sáu nghìn, hai trăm sáu mươi lăm đồng).
[3] Về chi phí tố tụng:
[3.1] Buộc ông Cao Văn A phải chịu số tiền 11.500.000 đồng (đã nộp
xong).
[3.2] Buộc bà Đinh Mỹ B và ông Võ Thanh D liên đới chịu 11.500.000
đồng để hoàn trả lại cho ông Cao Văn A đã tạm ứng trước.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[4] Về án phí sơ thẩm:
[4.1] Bà Đinh Mỹ B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho
bà B số tiền 5.000.000 đồng tạm ứng án phí bà B đã nộp theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007132 ngày 17/01/2022 tại Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Y, tỉnh Long An.
[4.2] Ông Cao Văn A được miễn nộp tiền án phí.
[5] Về án phí phúc thẩm: Miễn cho ông Cao Văn A.
[6] Án xử công khai phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay sau khi
tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án
dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Long An; - TAND cấp huyện; - Chi cục THADS cấp huyện; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Cảnh |