vanban.org

Bản án 168/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Chí T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/08/2022. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Chí T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2022/HS-ST
Ngày: 13/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Lê Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Hoàng Việt;

2. Ông Ngô Hữu Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 150/2022/HSST ngày 01/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Chí T, sinh năm 2003 tại tỉnh Bến Tre; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã K, huyện P, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: không có nơi cư trú rõ ràng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 02/12; con ông Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị Hồng H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không. Bị bắt tạm giam từ ngày 27/08/2022 - Có mặt.

Bị hại:

- Ông Đỗ Công V, sinh năm 1977; địa chỉ: Chung cư L, đường L, phường Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Phạm Văn H, sinh năm 1986 là người đại diện Hộ kinh doanh điện thoại X; Địa chỉ: đường L, phường Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

- 1 -

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/08/2022, Huỳnh Chí T đi vào chung cư L, địa chỉ số đường L, phường Q, Quận 7, để trộm cắp tài sản. T đi thang máy đến tầng 11 của chung cư thì thấy cửa căn hộ B11.XX không khóa cửa, trên kệ ti vi có 01 điện thoại Iphone 8, màu đen, bên trong nhà không có người trông coi. T lén lút đi vào trong căn hộ lấy trộm điện thoại Iphone 8, màu đen của ông Đỗ Công V, tẩu thoát ra khỏi chung cư. T phát hiện phần ốp lưng của điện thoại vừa trộm được có dán tờ giấy ghi “mã pin: 011051”. T nhập mã pin mở được khóa màn hình của điện thoại.

Sau đó, T đi bộ đến cửa hàng điện thoại H, địa chỉ số đường L, phường Q, Quận 7 bán được 550.000 đồng. T dùng số tiền để chơi internet hết. Đến khoảng 17 giờ 20 phút ngày 21/08/2022, T tiếp tục đi vào chung cư L tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi ngang qua căn hộ nhà ông V thì bị ông V phát hiện, khống chế giao Công an phường Q xử lý. Do vào ngày 18/08/2022, qua hệ thống camera thì ông V phát hiện T là người có đặc điểm giống người trong camera đã thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại của ông Vinh.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Huỳnh Chí T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 7 số: 306 /KL-HĐĐGTTHS ngày 25/08/2022 xác định: 01 điện thoại di động Iphone 8, màu đen đã qua sử dụng trị giá là 3.467.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại di động Iphone 8, màu đen là tài sản mà bị cáo Huỳnh Chí T trộm cắp của ông Đỗ Công V. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã trả lại cho ông Đỗ Công V theo Quyết định xử lý vật chứng ngày 20/10/2022 và Biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 21/10/2022.

Về dân sự: Ông Đỗ Công V đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác. Ông Phạm Văn H không yêu cầu Huỳnh Chí T trả lại số tiền 550.000 đồng mà ông Hậu đã mua điện thoại của T.

Tại Bản cáo trạng số: 133/CT-VKSQ7 ngày 01/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Huỳnh Chí T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- 2 -

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Chí T từ 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm tù.

Về dân sự: Ông Đỗ Công V đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác. Ông Phạm Văn H không yêu cầu Huỳnh Chí T trả lại số tiền 550.000 đồng mà anh Hậu đã mua điện thoại của T.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 7, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/08/2022, Huỳnh Chí T đi vào chung cư L, địa chỉ số: đường L, Phường Q, Quận 7, để trộm cắp tài sản. T đi thang máy đến tầng 11 của chung cư thấy cửa căn hộ B11.05 không khóa cửa, trên kệ ti vi có 01 điện thoại Iphone 8, màu đen, bên trong nhà không có người trông coi. T lén lút đi vào trong căn hộ lấy trộm điện thoại Iphone 8, màu đen của anh Đỗ Công V, tẩu thoát ra khỏi chung cư. Sau đó, T đi bộ đến cửa hàng điện thoại X, địa chỉ số: đường L, phường Q, Quận 7 bán được 550.000 đồng. T dùng số tiền để chơi internet hết.

Căn cứ kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 7 số: 306 /KL-HĐĐGTTHS ngày 25/08/2022 xác định: 01 điện thoại di động Iphone 8, màu đen đã qua sử dụng trị giá là 3.467.000 đồng.

- 3 -

Do vậy hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo phạm tội do tham lam tư lợi. Hành vi phạm tội của bị cáo là táo bạo, liều lĩnh, nguy hiểm vì đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Bị cáo là thanh niên khỏe mạnh, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động nên đã thực hiện hành vi phạm tội để có tiền tiêu xài. Vì vậy, cần xử phạt mức án nghiêm khắc để có đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Ông Đỗ Công Vđã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác. Ông Phạm Văn H không yêu cầu Huỳnh Chí T trả lại số tiền 550.000 đồng mà ông Hậu đã mua điện thoại của T. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng:

- 01 (một) điện thoại di động Iphone 8, màu đen là tài sản của ông Đỗ Công Vinh. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã trả lại cho ông Đỗ Công Vlà có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Chí T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Chí T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/08/2022.

- 4 -

2. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ