- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 168/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2022 V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung;
2. Ông Nguyễn Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 365/2022/TLST-HNGĐ, ngày 14/6/2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 286/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/8/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 231a/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1997 (vắng mặt – có đơn xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Trung Phú 6, xã Vĩnh Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Số điện thoại: xxxxxxxxxx
Địa chỉ hiện tại: Ấp Chuồng Vích, xã Gành Dầu, Phú Quốc, Kiên Giang.
2. Bị đơn: Chị Danh Thị Vĩnh N, sinh năm 1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Trung Phú 6, xã Vĩnh Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Số điện thoại: xxxxxxxxxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh Nguyễn Văn T với chị Danh Thị Vĩnh N tự nguyện chung sống với nhau và có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) xã Vĩnh Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/02/2020. Nhưng đến năm 2020, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường hay cự cãi do tính tình không hợp, chị N bỏ nhà đi từ đó không về. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Danh Thị Vĩnh N. Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/02/2020 (hiện đang sống với mẹ). Do không đủ điều kiện để nuôi con nên sau khi ly hôn anh T đồng ý giao cháu K cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, anh sẽ không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn chị Danh Thị Vĩnh N: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Danh Thị Vĩnh N nhưng chị N đã vắng mặt không lý do nên không có lời khai của chị N.
Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh T, chị N tại UBND xã Vĩnh Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thể hiện: Anh T và chị N có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/02/2020. Anh T và chị N đã ly thân, đối với chuyện mâu thuẫn vợ chồng của anh T, chị N thì chính quyền địa phương không rõ.
Tại phiên tòa: Anh Nguyễn Văn T vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Danh Thị Vĩnh N vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Anh T được ly hôn với chị N. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/02/2020 cho chị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Anh T yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Bị đơn chị Danh Thị Vĩnh N cư trú tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa chị N vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh Nguyễn Văn T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với chị Danh Thị Vĩnh N và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Sau khi kết hôn, anh T và chị N có một thời gian chung sống hạnh phúc thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường hay cự cãi do tính tình không hợp, anh chị quyết định sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị N đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị N.
Về con chung: Qua chứng cứ anh T cung cấp cũng như kết quả xác minh tình trạng hôn nhân tại UBND xã Bình Thành thì anh Nguyễn Văn T và chị Danh Thị Vĩnh N có 01 con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/02/2020 hiện đang sống với mẹ. Nhận thấy anh T thừa nhận không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con chung và có nguyện vọng cho giao cháu K cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án chị N không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của anh T về con chung, cháu K cũng chưa đủ 36 tháng tuổi. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, giao con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/02/2020 cho chị Danh Thị Vĩnh N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu K thành niên (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của cháu; Chị N phải tạo điều kiện cho anh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết anh T có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn T do các đương sự không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung:
Về tài sản chung: Anh T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Anh T trình bày không có nên HĐXX không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T là nguyên đơn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Danh Thị Vĩnh N.
Giấy chứng nhận kết hôn số 91 ngày 13/9/2019 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
2. Về quan hệ con chung: Chị Danh Thị Vĩnh N được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 29/02/2020; Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn T do các đương sự không yêu cầu. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung và nợ chung:
- Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
- Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh Nguyễn Văn T và chị Danh Thị Vĩnh N phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
5. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0009306 ngày 13/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, anh T đã nộp xong. Chị Danh Thị Vĩnh N không phải chịu án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - UBND xã Vĩnh Phú, h. Thoại Sơn; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Cẩm Xuyên |