- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, Tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Hồng Trung L với bà Nguyễn Thị Kiều T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2022/HNGĐ-ST Ngày 23 tháng 9 năm 2022 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đoàn Thị Sim.
Bà Phạm Hồng Ân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 258/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 414/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 288/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hồng Trung L; Sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp TPT, xã THT, huyện PT, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều T; Sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp TPT, xã THT, huyện PT, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 7 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Hồng Trung L trình bày:
Về hôn nhân: Ông Hồng Trung L và bà Nguyễn Thị Kiều T sống chung với nhau như vợ chồng năm 2002, đến ngày 06/02/2012 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã THT, huyện PT, tỉnh Cà Mau (Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2012). Quá trình sống chung với nhau thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn; vợ chồng đã ly thân từ tháng 7/2014 đến nay. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kiều T.
Về con chung: Quá trình sống chung giữa ông Hồng Trung L và bà T có 02 người con chung tên Hồng Mỹ L, sinh ngày 18/6/2003 (Nữ) và Hồng Thị Chúc L, sinh ngày 07/02/2012 (Nữ). Hiện Hồng Mỹ L đã trưởng thành, đủ khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với người con chung tên Hồng Thị Chúc L hiện do bà T đang nuôi dưỡng. Ông yêu cầu khi ly hôn giao Hồng Thị Chúc L cho bà T nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều Trang đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà T vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của ông Hồng Trung L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Hồng Trung L cho ông Hồng Trung L được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kiều T. Giao con chung tên Hồng Thị Chúc L cho bà T nuôi dưỡng, ông Hồng Trung L không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nội dung tranh chấp giữa ông Hồng Trung L với bà Nguyễn Thị Kiều T được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị Kiều T là bị đơn có nơi cư trú tại xã THT, huyện PT, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án ông Hồng Trung L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị Kiều T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Hồng Trung L với bà Nguyễn Thị Kiều T.
[3] Về hôn nhân: Ông Hồng Trung L với bà Nguyễn Thị Kiều T sống chung với nhau như vợ chồng năm 2002, đến ngày 06/02/2012 ông Hồng Trung L với bà Nguyễn Thị Kiều T mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã THT, huyện PT, tỉnh Cà Mau (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 20/2012), do đó hôn nhân của ông Hồng Trung L với bà Nguyễn Thị Kiều T là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, ông Hồng Trung L xác định quá trình sống chung với nhau, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kiều T. Đối với bà Nguyễn Thị Kiều T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng bà T vẫn vắng mặt không lý do, không gì sự kiện bất khả kháng và cũng không cung cấp tài liệu, lời khai và chứng cứ để phản đối yêu cầu khởi kiện của ông Hồng Trung L nên bà T tự chịu hậu quả của việc không cung cấp tài liệu, chứng cứ đó.
Hội đồng xét xử nhận thấy, ông Hồng Trung L đã gửi đơn yêu cầu ly hôn với bà T một thời gian dài nhưng bà T không có ý kiến gì, điều đó cho thấy bà T không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa ông Hồng Trung L với bà Nguyễn Thị Kiều T đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ông Hồng Trung L được ly với bà Nguyễn Thị Kiều T.
[4] Về con chung: Quá trình sống chung ông Hồng Trung L và bà T có 02 người con chung tên Hồng Mỹ L, sinh ngày 18/6/2003 (Nữ) và Hồng Thị Chúc L, sinh ngày 07/02/2012 (Nữ). Hiện Hồng Mỹ L đã trưởng thành, đủ khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với người con chung tên Hồng Thị Chúc L hiện do bà T đang nuôi dưỡng. Ông Hồng Trung L yêu cầu khi ly hôn giao Hồng Thị Chúc L cho bà T nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử nhận thấy quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Kiều T không có ý kiến gì về yêu cầu của ông Hồng Trung L giao con cho bà T nuôi dưỡng, ông Hồng Trung L không cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy, con chung hiện do bà T đang trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời tại bản tự khai ngày 25/7/2022, Hồng Thị Chúc L có nguyện vọng muốn được sống chung với mẹ là bà Nguyễn Thị Kiều T. Để ổn định về mặt tâm lý, cũng không làm xáo trộn đời sống của cháu Hồng Thị Chúc L, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của ông Hồng Trung L giao con chung tên Hồng Thị Chúc L, giới tính nữ, sinh ngày 07/02/2012 cho bà Nguyễn Thị Kiều T nuôi dưỡng, ông Hồng Trung L không cấp dưỡng nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung nếu sau này có yêu cầu thì bà Nguyễn Thị Kiều T có quyền khởi kiện yêu cầu ông Hồng Trung L cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
[5] Về tài sản chung, nợ chung:
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình ông Hồng Trung L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 212, 147, 207, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Hồng Trung L với bà Nguyễn Thị Kiều T.
2. Về con chung: Con chung tên Hồng Mỹ L, sinh ngày 18/6/2003 (Nữ), hiện đã trưởng thành, đủ khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét. Giao con chung tên Hồng Thị Chúc L, sinh ngày 07/02/2012 (Nữ) cho bà Nguyễn Thị Kiều T nuôi dưỡng, ông Hồng Trung L không cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung:
- Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét.
- Nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
4. Án phí:
- Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình: Ông Hồng Trung L phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 27/7/2022, ông Hồng Trung L đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000đ theo biên lai số 0018119 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu.
Ông Hồng Trung L, bà Nguyễn Thị Kiều T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân; - UBND xã Tân Hưng Tây, huyện Phú Tân; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Bình |