vanban.org

Bản án 168/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 04/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Anh T và Khang Nhật N phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Anh T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xử phạt: Bị cáo Khang Nhật N 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 168/2021/HSST Tuyên án 04/10/2021
Phúc thẩm Bản án 226/2022/HSPT-QĐ Tuyên án 18/06/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Anh T và đồng bọn - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Anh T và Khang Nhật N phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 168/2021/HSST
Ngày: 04/10/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quang Khánh;

Ông Ngô Đức Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Hùng Cường – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 167/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2021/QĐXXST-HS ngày 13/7/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2021/HSST-QĐ ngày 27/7/2021; Thông báo mở lại phiên tòa số 05/TB-TA ngày 21/9/2021 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đối với các bị cáo:

1. Hoàng Anh T, sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số nhà 20, ngõ 115 đường H L S, tổ 10 phường T T, thị xã N L, tỉnh Y B; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Văn M và bà Đào Thị L; Danh bản, chỉ bản số: 187 do Công an quận Cầu Giấy lập ngày 16/02/2021;

Tiền sự: 02

- Ngày 03/4/2009, bị Công an thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt hành chính về hành vi “Đánh nhau”.

- Ngày 29/01/2018, bị Công an tỉnh Yên Bái xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Tiền án: Không

Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Khang Nhật N, sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 3, phường C T, thị xã N L, tỉnh Y B; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Khang Văn T và bà Hoàng Thị T; có vợ là Vũ Hoàng Y và 01 con gái sinh năm 2017; Danh bản, chỉ bản số: 188 do Công an quận Cầu Giấy lập ngày 16/02/2021;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Vũ Hoàng Y, sinh năm 1993;

Nơi cư trú: Tổ 3, phường C T, thị xã N L, tỉnh Y B (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 30 phút, ngày 28/01/2021 Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế

- Môi trường, Công an quận Cầu Giấy đang làm nhiệm vụ tại khu vực đối diện cổng phụ công viên Cầu Giấy (Địa chỉ: đường Trương Công Giai, Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội) phát hiện Khang Nhật N đang giao nhận 01 thùng cát tông ở cốp sau xe ô tô BKS 30E-389.73 của N với một thanh niên (không rõ lai lịch), bên trong có 02 cá thể gà có đặc điểm lông đen xám, có chấm hoa trên lông, chân đen, mỏ đen. Tại chỗ N khai nhận trong thùng cát tông là 02 cá thể gà tiền mặt vàng. Đối tượng N thanh niên lợi dụng sơ hở đã chạy thoát, để rơi 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5 màu trắng – vàng, gắn sim 0332749576 trên xe ô tô. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi mua bán động vật hoang dã quý, hiếm đối với Khang Nhật N, đưa N cùng số tang vật trên về trụ sở Công an quận Cầu Giấy để làm rõ. Ngoài ra, còn thu giữ của N:

+ 01 (Một) Chiếc điện thoại di động hiệu “Vsmart” màu trắng, đã qua sử dụng, gắn sim 0985569296

+ 01 (Một) Chiếc xe ô tô hiệu Kia morning, màu trắng BKS 30E-389.73

+ 01 (Một) Đăng ký xe số 620375 xe ô tô BKS 30E-389.73 mang tên Bùi Thị Xuân.

+ 01 (Một) Đăng kiểm số 0550055 cấp cho xe ô tô BKS 30E-389.73 ngày 11/11/2019, hết hạn kiểm định ngày 31/5/2021

+ 01 (Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm xe mang tên Bùi Thị X.

+ 01 (Một) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Khang Nhật N.

Kết luận giám định động vật số 132/STTNSV ngày 05/02/2021 của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật thuộc Viện hàm lâm khoa học và công nghệ Việt N kết luận: 02 cá thể động vật sống là loài Gà tiền mặt vàng có tên khoa học là Polyplectron bicalcaratum. Tình trạng bảo tồn: Gà tiền mặt vàng là loài chim hiện nằm trong phụ lục I của Nghị định 64/2019/NĐ-CP về sửa đổi Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và phụ lục IB, Nghị định 06/2019 của Chính phủ Việt Nam ngày 22/01/2019 về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về Buôn bán Quốc tế các loài Động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. Ngày 29/01/2021, sau khi giám định. Cơ quan điều tra đã bàn giao 02 cá thể gà tiền mặt vàng cho trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội (Địa chỉ: xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) tiếp nhận, chăm sóc theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra, Khang Nhật N khai nhận: N là lái xe ô tô dịch vụ tại khu vực thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. Cuối năm 2020, N quen Hoàng Anh T, T sử dụng số điện thoại 03776761991 và có nick facebook là “Anh T". Ngày 24/01/2021, T gọi diện cho N hỏi thuê N chở 02 cá thể gả tiền mặt vàng xuống Hà Nội với giá 1.700.000 đồng N đồng ý. T cho N số điện thoại 0332749576 của đối tượng mua gà có nick Zalo “N Lê" để cả hai liên hệ thống nhất việc vận chuyển. Qua trao đổi, N biết T và đối tượng “N Lê" thống nhất mua bán 02 cá thể gà tiền mặt vàng với giá 7.000.000 đồng. “N Lê" chuyển cho T trước 3.000.000 đồng tiền cọc thông qua số tài khoản 37110000817356 mở tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt N (BIDV) của anh Lưu Mạnh H, sinh năm 1991 (Trú tại: số 4 đường H L S, phường T T, thị xã N L, tỉnh Y B) là bạn chung của cả N và T. Đối tượng “N Lê" thống nhất trả thêm cho N 800.000 đồng, tổng là 2.500.000 đồng để N vận chuyển về Hà Nội cho “N Lê" 02 cá thể gà trên. Khoảng 18 giờ ngày 28/01/2021, N điều khiển xe ô tô hiệu Kia Moning BKS 30E-389.73 chở 02 cá thể gà tiền mặt vàng từ nhà T tại tổ 10, phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái xuống Hà Nội. Khoảng 23 giờ 30 phút khi N đang giao 02 cá thể gà tiền mặt vàng cho đối tượng “N Lê” tại khu vực cổng sau công viên Cầu Giấy trên đường Trương Công Giai, Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội thì bị bắt giữ như đã nêu trên.

Ngày 31/01/2021, Hoàng Anh T đã đến Công an quận Cầu Giấy đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận: Ngày 21/01/2021, T mua của một người đàn ông không quen biết qua mạng facebook 02 cá thể gà tiền mặt vàng với giá 800.000 đồng tại khu vực Cầu Thia, thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái. T tìm hiểu và biết rõ 02 cá thể trên là động vật nguy cấp, quý, hiếm. Sau đó, T rao bán trên facebook “Anh T” của mình kèm theo số điện thoại 03776761991. Ngày 22/01/2021, đối tượng sử dụng nick zalo “N Lê” liên hệ với T theo số điện thoại trên hỏi mua gà. T và “N Lê” thống nhất mua 02 cá thể trên với giá 7.000.000 đồng và sẽ giao nhận tại Hà Nội. “N Lê” đã chuyển khoản 3.000.000 đồng tiền đặt cọc cho T qua tài khoản của bạn T là anh Lưu Mạnh Hiểu. Số tiền còn lại khi nhận hàng. N sẽ nhận và chuyển lại cho T. T thuê Khang Nhật N chở 02 có thể trên về Hà Nội với giá 1.700.000 đồng. Việc N thống nhất với đối tượng “N Lê” vận chuyển với giá 2.500.000 đồng thì T không biết. Sau đó, N đã chở 02 có thể gà trên về Hà Nội để giao cho “N Lê” và bị bắt giữ.

Xác minh đối với số tài khoản 37110000817356 tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt N (Ngân hàng BIDV) là tài khoản nhận số tiền 3.000.000 đồng. Kết quả thể hiện số tài khoản trên mang tên Lưu Mạnh H (sinh năm 1991, trú tại: số 41 đường H L S, phường T T, thị xã N L, tỉnh Y B). Anh Lưu Mạnh H khai: Anh là bạn của Khang Nhật N và Hoàng Anh T. Ngày 28/01/2021, anh cho N và T mượn số tài khoản cá nhân để chuyển khoản 3.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, anh đã đưa lại cho T. Anh không biết việc N và T mua bán 02 cá thể gà trên như thế nào.

Xác minh đối với số tài khoản 8230138668888 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội, chi nhánh Thăng Long đã gửi số tiền 3.000.000 đồng là số tiền “N Lê” chuyển khoản cho Hoàng Anh T. Kết quả thể hiện số tài khoản trên mang tên Phan Huy T (Địa chỉ: Đội 11, thôn T X, xã Đ T, N G, H D). Xác minh đối với Phan Huy T tại địa chỉ trên, hiện ông T không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình và chính quyền địa phương không biết.

Cơ quan điều tra đã kiểm tra chiếc điện thoại di động động hiệu “Vsmart” màu trắng, sim số 0985569296 thu giữ của Khang Nhật N và chiếc điện thoại Iphone 5 sim số 0332749576 của đối tượng “N Lê”, thể hiện tin nhắn mua bán 02 cá thể gà tiền mặt vàng.

Cơ quan điều tra đã ra lệnh thu giữ điện tín đối với các số điện thoại 03776761991, 0332749576, 0985569296. Kết quả thể hiện: Số điện thoại 03776761991 chưa đăng ký thông tin người sử dụng; Số diện thoại 0332749576 đăng ký tên người sử dụng là Trần Thị H, sinh năm 1984 (Địa chỉ: Khối 12, thị trấn Bình M, K S, N B, sử dụng CMND số 164210617). Chị H khai: Từ trước đến nay chị không đăng ký, sử dụng số điện thoại trên và không đăng ký cho ai sử dụng số điện thoại trên. Chị không có mối quan hệ gì với Khang Nhật N, Hoàng Anh T và không có giao dịch mua bán bất kỳ cá thể gà tiền mặt vàng nào; Số điện thoại 0985569296 đăng ký tên người sử dụng là Khang Nhật N.

Lời khai của Khang Nhật N và Hoàng Anh T phù hợp với nhau, với tang vật vụ án, kết luận giám định động vật, biên bản kiểm tra điện thoại cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra.

Đối với chiếc xe ô tô thu giữ của Khang Nhật N. N khai: Tháng 10/2020, anh cùng vợ là chị Vũ Hoàng Y, sinh năm 1993 (trú tại: Tổ 3, phường C T, thị xã N L, Y B) mua lại chiếc xe trên với giá 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) của bà Bùi Thị X, sinh năm 1977 và chồng là ông Trịnh Hồng P, sinh năm 1976, cùng trú tại: P510-C7, tập thể Q M, phường Q M, quận H B T, Hà Nội để làm dịch vụ chở xe thuê. Việc N sử dụng chiếc xe chở 02 cả thể gà tiền mặt vàng chị Y không biết. Chị Vũ Hoàng Y khai: Chị là vợ của Khang Nhật N. Tháng 10/2020, vợ chồng chị mua lại chiếc xe trên đúng như N đã trình bày. Ngày 28/01/2021, N sử dụng chiếc xe trên để chở gà tiền mặt vàng, chị Yến không biết. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số khung, số máy đối với xe ô tô BKS 30E-389.73 nêu trên. Kết luận giám định số 1784/KL-PC09-Đ3 ngày 03/3/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an TP Hà Nội kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu Kia moring gửi giám định có số khung, số máy nguyên thủy. Tra cứu xe ô tô thể hiện chiếc xe trên không phải là vật chứng vụ án. Ngày 07/5/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Vũ Hoàng Y chiếc xe nêu trên cùng toàn bộ giấy tờ xe, trả lại cho Khang Nhật N 01 giấy chứng minh nhân dân. Ngày 31/5/2021, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách rút tài liệu liên quan đến đối tượng mua 02 cá thể gà tiền mặt vàng để điều tra, xử lý sau.

Cáo trạng số 113/CT-VKSCG ngày 02/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố Hoàng Anh T và Khang Nhật N về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo T mức án từ 13 (Mười ba) đến 18 (Mười tám) tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo N mức án từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp hai lần. Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu “Vsmart” màu trắng, đã qua sử dụng, gắn sim 0985569296; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5 màu trắng – vàng, gắn sim 0332749576.

Tại phiên toà: Các Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Hoàng Anh T không tranh luận, trình bày lời nói sau cùng: Do thiếu hiểu biết nên bị cáo đã có hành vi phạm tội, bản thân bị cáo đang mắc bệnh nặng, bị cáo đã ăn năn hối hận và mong muốn nhận được sự khoan hồng để có điều kiện cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Khang Nhật N không tranh luận, trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối hận và mong muốn nhận được sự khoan hồng để có điều kiện chăm sóc mẹ già và nuôi con nhỏ do bị cáo là lao động chính trong gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng, biên bản kiểm tra điện thoại cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 28/01/2021, Hoàng Anh T thuê Khang Nhật N điều khiển xe ô tô hiệu Kia morning màu trắng BKS 30E-389.73 chở 02 (Hai) cá thể gà tiền mặt vàng là loài động vật thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ đi từ Thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đến khu vực công viên Cầu Giấy để giao cho 01 (Một) đối tượng sử dụng nick Ne zalo “N Lê” thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, Công an quận Cầu Giấy phát hiện bắt quả tang. Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Anh T khai rõ bị cáo sau khi mua được 02 (Hai) cá thể gà tiền mặt vàng của 01 (Một) người dân tộc với giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng), bị cáo đã lên mạng Youtube tra cứu và biết rõ đây là cá thể gà tiền mặt vàng, bán lại sẽ có lời vì thuộc hàng quý hiếm nên bị cáo đã chủ động tìm kiếm khách hàng, khi có đối tượng “N Lê” hỏi mua bị cáo đã gửi hình ảnh và “N Lê” trả giá là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Bị cáo Khang Nhật N biết rõ 02 (Hai) cá thể gà này bị cấm vận chuyển, lo sợ bị Công an phát hiện nhưng vì ham lời vẫn nhận chở từ Yên Bái đi Hà Nội để giao cho đối tượng “N Lê”.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm các chính sách của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp gây ảnh hưởng xấu đến trật tự quản lý kinh tế, ảnh hưởng xấu đến uy tín của đất nước trong vai trò là thành viên cam kết thực hiện Công ước cùng với các quốc gia khác trên thế giới.

Bị cáo T là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán động vật rừng quý, hiếm là vi phạm pháp luật, khi bị cáo mua 02 (Hai) cá thể gà nêu trên đã tìm hiểu trên Youtube biết rõ là gà tiền mặt vàng, biết giá trị quý hiếm nên mua với giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng), rồi bán lại với giá 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), bị cáo đã nhận trước tiền cọc là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), thu lời 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng). Như vậy, bị cáo đã nhận thức rõ việc mua bán động vật quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là hành vi trái pháp luật nhưng sẽ đem lại lợi nhuận cao nên bị cáo vẫn bất chấp hậu quả cố ý thực hiện hành vi thể hiện ý chí phạm tội coi thường pháp luật. Vai trò của bị cáo trong vụ án là người chủ mưu tự thực hiện quá trình mua 02 (Hai) cá thể gà tiền mặt vàng rồi lên mạng Facebook rao bán lại với số tiền chênh lệch lớn để hưởng lợi trái pháp luật. Vì vậy, nhận thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để đảm bảo tính trừng trị, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với bị cáo N là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán động vật rừng quý, hiếm của T là vi phạm pháp luật nhưng do cần tiền trang trải cuộc sống nên vẫn đồng ý với T chở 02 cá thể gà tiền mặt vàng để nhận được tiền thù lao, trong vụ án bị cáo có vai trò là người giúp sức.

Nhận xét về vai trò, nhân thân và lượng hình đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, các quy định về bảo vệ động vật hoang dã. Các bị cáo là những người có đầy đủ nhận thức hành vi buôn bán động vật hoang dã là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, nhằm mục đích trục lợi.

Xét thấy đây là một vụ án đồng phạm. Cần phân định rõ vị trí, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để có căn cứ xác định hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ mà các bị cáo đã thực hiện. Bị cáo Hoàng Anh T là người giữ vai trò chủ mưu, là người trực tiếp mua 02 (Hai) cá thể gà tiền mặt vàng, là loại động vật nguy cấp, quý, hiếm được bảo vệ, thuộc danh mục cấm săn bắt, mua bán, bị cáo cũng là người liên hệ với người mua để bán lại hưởng chệnh lệch, do đó vai trò của bị cáo T cao hơn so với bị cáo Khang Nhật N. Bị cáo N không mua 02 (Hai) cá thể gà tiền mặt vàng và không giao dịch bán cho đối tượng “N Lê”, bị cáo N biết được 02 (Hai) cá thể T nhờ chuyển về Hà Nội là loại động vật nguy cấp, quý hiếm nhưng vẫn đồng ý chở để hưởng công vận chuyển, bị cáo đã tiếp nhận ý chí, là đồng phạm giúp sức cho bị cáo T để cùng thực hiên hành vi phạm tội, do đó vai trò của bị cáo thấp hơn bị cáo T.

Xét về nhân thân, bị cáo T là người đã có 02 (Hai) tiền sự: Ngày 03/4/2009, bị Công an thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt hành chính về hành vi “Đánh nhau”; Ngày 29/01/2018, bị Công an tỉnh Yên Bái xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Mặc dù các tiền sự này của bị cáo đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng vẫn thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét, tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại được Nhà nước trao tặng nhiều bằng khen, huân huy chương, sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện bị cáo đã ra đầu thú, bản thân bị cáo hiện đang mắc bệnh hiểm nghèo (ung thư thận), hiện đang điều trị tại bệnh viện K Hà Nội, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo có thời gian đi nghĩa vụ quân sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 244 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo N là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, chưa từng vi phạm pháp luật, bị cáo chưa được hưởng lợi gì từ việc vận chuyển động vật nguy cấp, quý hiếm. Trong vụ án này bị cáo là đồng phạm có vai trò giúp sức, nhưng tích chất mức độ của vụ án là nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét, tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng nhận được các huân huy chương của Nhà nước, nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, hiện bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo là lao động chính trong gia đình và đang phải nuôi con nhỏ, nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo N cải tạo ngoài xã hội là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 244 Bộ luật Hình sự

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Đối với 02 cá thể động vật sống là loài Gà tiền mặt vàng có tên khoa học Polyplectron bicalcaratum là loài chim hiện nằm trong phụ lục I của Nghị định 64/2019/NĐ-CP về sửa đổi Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và phụ lục IB, Nghị định 06/2019 của Chính phủ Việt N ngày 22/01/2019 về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về Buôn bán Quốc tế các loài Động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. Ngày 29/01/2021, sau khi giám định Cơ quan điều tra đã bàn giao 02 cá thể Gà tiền mặt vàng cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội tiếp nhận, chăm sóc. Xét thấy cần thiết để bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm nên tiếp tục giao các cá thể động vật trên cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu “Vsmart” màu trắng, đã qua sử dụng, gắn sim 0985569296.

+ 01(Một) chiếc điện thoại di động Iphone 5 màu trắng – vàng, gắn sim 0332749576

- Bị cáo T mua 02 (Hai) cá thể gà tiền mặt vàng với giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng), bị cáo bán lại với giá 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) và đã nhận trước tiền cọc là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Như vậy, bị cáo đã thu lời bất chính 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng), cần buộc bị cáo truy nộp lại số tiền này để sung công quỹ Nhà nước.

Về dân sự: Chị Vũ Hoàng Y đã nhận lại tài sản là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia moring, BKS 30E-389.73 cùng toàn bộ giấy tờ xe và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Anh T và Khang Nhật N phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”

- Áp dụng khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Anh T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Xử phạt: Bị cáo Khang Nhật N 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND phường Cầu Thia, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

+ 02 (Hai) cá thể động vật sống là loài Gà tiền mặt vàng có tên khoa học là Polyplectron bicalcaratum và giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội (Địa chỉ: xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) giải quyết theo thẩm quyền.

(Hiện đã được giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội theo biên bản giao nhận động vật hoang dã số A.29.01.2021/BB-GNĐVR ngày 29/01/2021)

+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu “Vsmart” màu trắng, đã qua sử dụng, gắn sim 0985569296.

+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động Iphone 5 màu trắng – vàng, gắn sim 0332749576

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 214/GN/THA-CA ngày 05/7/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội)

- Buộc bị cáo T truy nộp số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) là tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có để sung công quỹ Nhà nước.

3. Về dân sự: Không.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ