- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Đặng Thị Hoài T- Phạm Thị Thu V"
- Tòa quyết gì? Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Hoài T.
- Căn cứ chính? Điều 688 Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13; Điều 116 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2021/DS-ST Ngày: 08 - 7 - 2021 V/v: Tranh ch p h p ng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Rỹ
2. Bà Nguyễn Thị Kim H ng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố H Chí Minh.
- Đ i diện Viện i m sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Sinh – Ki m sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố H Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 383/2016/TLST-DS, ngày 21 tháng 11 năm 2016, về tranh ch p “h p ng vay tài sản” theo Quyết ịnh ưa vụ án ra xét xử số: 130/2021/QĐXXST-DS ngày 21/5/2021 và Quyết ịnh hoãn phiên tòa số: 108/2021/QĐST-DS ngày 18/6/2021 giữa các ương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Hoài T; sinh năm 1974
Địa chỉ: Số 958/54/17/4 ường Q, Phường C, quận A, Thành phố H Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đặng Văn T; Địa chỉ: Số 89 ường T, phường Q, quận P, Thành phố H Chí Minh là người ại diện theo ủy quyền của nguyên ơn (theo gi y ủy quyền số công chứng 022589 ngày 19/8/2016).
2. Bị đơn:
2.1. Bà Phạm Thị Thu V; sinh năm 1959
2.2. Bà Lê Thị Mỹ L; sinh năm 1986
Cùng ịa chỉ: Số 17 ường Đ, Phường H, Quận A, Thành phố H Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị Hoài T có ông Đặng Văn T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 24/3/2016 bà Phạm Thị Thu V và con dâu là bà Lê Thị Mỹ L có vay của bà Đặng Thị Hoài T số tiền 500.000.000 ng, với lãi su t thỏa thuận bằng lời nói là 2%/1 tháng. Hai bên có lập gi y nhận tiền. Đến ngày 24/4/2016 bị ơn có vay thêm 50.000.000 ng. Tổng số tiền bà V và bà L ã vay là 550.000.000 ng. Từ khi vay tiền ến nay bà V và bà L không trả tiền vốn và tiền lãi cho bà T như thỏa thuận mặc dù bà T ã nhiều lần liên hệ yêu cầu thanh toán. Bà T cũng ã nhờ ến sự can thiệp của Văn phòng luật sư Bnhưng từ khi nhận ư c thông báo của Văn phòng luật sư bị ơn vẫn không thanh toán số tiền n vốn và lãi nêu trên. Hiện nay phía bị ơn không còn cư trú tại ịa phương, bỏ i âu không rõ mà không thông báo ịa chỉ cư trú mới cho nguyên ơn.
Ngày 14/6/2021 ông T có văn bản “ ơn trình bày ý kiến” với nội dung “tại Đơn khởi kiện bà T yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà V và bà L cùng có nghĩa vụ liên ới trả cho bà T số n gốc là 550.000.000 (Năm trăm năm mươi triệu ng). Mặc dù khi vay mư n tiền chính bà V , bà L cùng thống nh t ng ý sẽ trả lãi cho bà T với mức lãi su t 2% tháng, thực tế bà V , bà L ã trả lãi ư c 2 tháng (tháng 03 và tháng 04 năm 2016) với số tiền là 30.000.000 (Ba mươi triệu ng). Tuy nhiên khi bị kiện ra tòa thì bà V , bà L không thừa nhận mức lãi su t 2% tháng. Do các bên thỏa thuận về lãi su t bằng miệng, không lập văn bản và phía bị ơn phủ nhận, nên việc tính tiền lãi và n gốc tại Đơn khởi kiện là chưa phù h p. Nay bà T xác ịnh lãi su t của tháng 03, 04/2016 là 8.250.000 (lãi su t một tháng là 4.125.000 ). Như vậy, sau khi trừ tiền lãi 8.250.000 của tháng 03, 04/2016 trong số tiền 30.000.000 bà V , bà L trả lãi trước ó, số tiền bà T yêu cầu bà V và bà L trả n cụ th như sau: Buộc bà V và bà L có trách nhiệm liên ới thanh toán 1 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật với số tiền gốc là 528.250.000 (Năm trăm hai mươi tám triệu hai trăm năm mươi ngàn ng) và tiền lãi là 10%/năm tính từ ngày 25 tháng 05 năm 2016 cho ến ngày xét xử”.
Ông T xác nhận số tiền mà bà T cho bà Phạm Thị Thu V, bà Lê Thị Mỹ L vay là tiền riêng của bà T không liên quan ến người khác.
Nguyên ơn chỉ yêu cầu bà V và bà L có trách nhiệm liên ới thực hiện trả n mà không yêu cầu ai khác liên ới cùng bị ơn trả n .
Theo bản tự khai đề ngày 08/11/2016, bị đơn bà Phạm Thị Thu V trình bày: “Xác nhận có viết gi y nhận tiền cho con dâu giao dịch ối với bà Đặng Thị Hoài T và Lê Thị Mỹ L số tiền vay là 500.000.000 ng (năm trăm triệu chẵn) (nhưng vì con dâu không biết chữ) tôi là người lớn vai vế là má ch ng chỉ chứng kiến cho việc làm ăn này nên dì nói viết cho có hình thức thôi. Nay con dâu tôi làm ăn th t bại chỉ trả ư c 50.000.000 (năm mươi triệu) Dì không ng ý khởi kiện ra tòa. Tôi cũng xin pháp luật hoàn cảnh con dâu tôi r t khó khăn nuôi hai con nhỏ việc làm chưa ổn ịnh xin ư c trả hoàn vốn (không trả lãi)”.
Theo bản tự khai đề ngày 08/12/2016, bị đơn bà Lê Thị Mỹ L trình bày: “Xác nhận có vay của bà Đặng Thị Hoài T số tiền là 550.000.000 ng (năm trăm năm mươi triệu ng chẵn) làm ăn nhưng th t bại không có khả năng chi trả. Tuy nhiên trước ó tôi có chi trả cho bà Đặng Thị Hoài T là 50.000.000 (năm mươi triệu ng chẵn) mà bà T là Dì ruột của tôi. Nay vì tôi làm ăn th t bại hoàn cảnh r t là khó khăn, việc làm trắng tay chưa ổn ịnh cầu xin pháp luật Tòa án và Dì T cho tôi ư c chi trả theo khả năng làm việc thu nhập của tôi. Tôi xin không trả lãi mà trả vốn thôi cho Dì 1 tháng 2.000.000 ng theo thu nhập vì tôi còn nuôi hai con nhỏ và tôi cũng nói thêm vì không biết chữ nên tôi có nhờ má ch ng là người lớn ứng viết gi y nhận tiền giùm tôi và làm chứng cho hai bên Dì T và tôi giao dịch. Xin quý Tòa tôi tự nhận trách nhiệm tiền vay này, má ch ng tôi chỉ liên quan chứng kiến”.
Tòa án ã triệu tập bà Phạm Thị Thu V và bà Lê Thị Mỹ L nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ư c.
Tại phiên tòa, ại diện Viện ki m sát nhân dân Quận 8, Thành phố H Chí Minh phát bi u ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý ến xét xử Tòa án ã ch p hành úng các qui ịnh của pháp luật về tố tụng dân sự, về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa ảm bảo theo quy ịnh của pháp luật; nguyên ơn ch p hành úng pháp luật; bị ơn không thực hiện úng các quy ịnh của pháp luật. Đề nghị Hội ng xét xử ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên ơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án ư c thẩm tra tại phiên tòa, lời phát bi u ý kiến của ại diện Viện ki m sát, Hội ng xét xử nhận ịnh:
. Về tố tụng:
Căn cứ ơn xin xác nhận ề ngày 01/11/2016, Công an Phường M, Quận A, Thành phố H Chí Minh xác nhận: “Đ/s Phạm Thị Thu V và Lê Thị Mỹ L hiện ang thực tế cư trú tại số 17 Đường H, Phường M, Quận A”; Ngày 08/11/2016 bà V có mặt tại Tòa án tự khai, ngày 08/12/2016 bà V và bà L có mặt tại Tòa án tự khai và nộp cho Tòa án bản sao có chứng thực sổ hộ khẩu của nhà số 17 ường Đ, Phường H, Quận A, Thành phố H Chí Minh; Căn cứ kết quả xác minh của Công an Phường M, Quận A, Thành phố H Chí Minh ngày 06/01/2021: “Đ/s Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1986 có HKTT tại 17 Đường H, Phường M, Quận A. Nhưng gia ình ã bán nhà i từ năm 2016. Hiện không còn ai như yêu cầu xác minh cư trú tại ịa chỉ trên (không rõ i âu)”. Đại diện nguyên ơn cũng xác ịnh hiện bà V và bà L bỏ i âu không rõ mà không thông báo ịa chỉ cư trú mới cho nguyên ơn. Do ó, Tòa án xác ịnh ịa chỉ số 17 ường Đ, Phường H, Quận A, Thành phố H Chí Minh là ịa chỉ cư trú cuối cùng của bà Phạm Thị Thu V và bà Lê Thị Mỹ L theo quy ịnh tại Khoản 3 Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy ịnh tại Khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại ơn khởi kiện, quyền nộp lại ơn khởi kiện lại vụ án.
Tòa án ã ban hành quyết ịnh thông báo trên phương tiện thông tin ại chúng về thời gian tham gia phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa xét xử nhưng phía nguyên ơn từ chối ăng thông báo theo yêu cầu của Tòa án và ề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết theo quy ịnh.
Bà Phạm Thị Thu V và bà Lê Thị Mỹ L ã ư c Tòa án ã tống ạt h p lệ về thời gian tham gia phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành ki m tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải ư c theo Điều 207, Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án cũng ã tống ạt h p lệ cho bà V và bà L về thời gian tham gia phiên tòa nhưng bị ơn vẫn vắng mặt không có lý do. Đ ng thời, người ại diện theo ủy quyền của nguyên ơn có ơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Do ó, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các ương sự.
Do nguyên ơn xác nhận số tiền mà bà T cho bà V và bà L vay là tiền riêng của bà T không liên quan ến người khác và chỉ yêu cầu bà V , bà L có trách nhiệm liên ới thực hiện trả n mà không yêu cầu ai khác liên ới cùng bị ơn trả n nên Tòa án không xác ịnh thêm người tham gia tố tụng nào khác.
. Về quan hệ pháp luật tranh ch p và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét th y, ây là vụ án tranh ch p về h p ng vay tài sản, do bị ơn có ịa chỉ cư trú cuối cùng tại Quận 8, Thành phố H Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố H Chí Minh theo qui ịnh tại Khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về áp dụng pháp luật dân sự: Căn cứ gi y nhận tiền ngày 24/3/2016 và bị ơn xác nhận bà Lê Thị Mỹ L có vay của bà Đặng Thị Hoài T số tiền là 550.000.000 ng (năm trăm năm mươi triệu ng) thì ây là giao dịch dân sự ư c xác lập trước ngày 01/01/2017 nhưng có nội dung và hình thức phù h p với quy ịnh của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên áp dụng quy ịnh của Bộ luật này giải quyết theo quy ịnh tại i m b Khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015.
. Về các yêu cầu của ương sự: Nguyên ơn yêu cầu Tòa án buộc bà V và bà L có trách nhiệm liên ới thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật với số tiền gốc là 528.250.000 (Năm trăm hai mươi tám triệu hai trăm năm mươi ngàn ng) và tiền lãi là 10%/năm tính từ ngày 25 tháng 05 năm 2016 cho ến ngày xét xử.
. Xét, nguyên ơn cho rằng bà có cho bà Phạm Thị Thu V và con dâu là bà Lê Thị Mỹ L vay số tiền 500.000.000 ng, với lãi su t thỏa thuận bằng lời nói là 2%/1 tháng vào ngày 24/3/2016. Đến ngày 24/4/2016 vay thêm 50.000.000 ng. Tổng số tiền bà V và bà L ã vay là 550.000.000 ng. Tuy nhiên, hai bên không lập h p ng vay tiền mà chỉ lập gi y nhận tiền với nội dung: bà “Phạm Thị Thu V có nhận số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu chẵn) cho con dâu là =Lê Thị Mỹ L đồng trả số tiền trên của dì Đặng Thị Hoài T. Sẽ hoàn trả nợ nhanh càng sớm càng tốt cho Dì T một cách sớm nhất”. Tại bản tự khai ngày 08/11/2016 bà V thừa nhận bà có viết gi y nhận tiền cho con dâu giao dịch ối với bà Đặng Thị Hoài T với số tiền vay là 500.000.000 ng (vì con dâu không biết chữ) bà L làm ăn. Tại bản tự khai ề ngày 08/12/2016, bà L cũng thừa nhận có vay của bà Đặng Thị Hoài T số tiền là 550.000.000 ng (năm trăm năm mươi triệu ng) làm ăn. Như vậy, nguyên ơn cho rằng bà cho bà V và bà L vay tổng số tiền là 550.000.000 ng, còn bị ơn thừa nhận số tiền ã vay nhưng ây là số tiền bà L vay của bà Thu, bà V chỉ là người ứng ra viết gi y nhận tiền cho bà Lệ, bà V chỉ là người chứng kiến sự việc. Tuy nhiên, bị ơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án chứng minh cho lời trình bày của mình và ây là giao dịch dân sự do hai bên xác lập hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm iều c m của luật, không trái ạo ức xã hội. Do ó, có căn cứ xác ịnh bà Phạm Thị Thu V và bà Lê Thị Mỹ L có vay của bà Đặng Thị Hoài T tổng số tiền 550.000.000 (năm trăm năm mươi triệu ng).
Bà L trình bày bà có chi trả cho bà T là 50.000.000 ng nhưng không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án chứng minh số tiền ã thanh toán là bao nhiêu. Nay vì bà làm ăn th t bại hoàn cảnh r t là khó khăn, không có việc làm ổn ịnh nên xin ư c chi trả theo khả năng là không trả lãi mà chỉ trả vốn mỗi tháng 2.000.000 ng. Bà L cũng tự nhận trách nhiệm trả số tiền vay, không liên quan ến bà V . Tuy nhiên, nguyên ơn không thừa nhận việc bà L thanh toán số tiền 50.000.000 ng mà cho rằng từ khi vay bà V , bà L chỉ trả tiền lãi ư c 2 tháng (là tháng 03 và tháng 04 năm 2016) với tổng số tiền là 30.000.000 ng sau ó thì nhưng thanh toán. Do số tiền này vư t quá mức lãi su t cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy ịnh (9%/năm) nên số tiền vư t quá ư c trừ vào số tiền n vốn. Sau khi trừ i tiền lãi của hai tháng là 8.250.000 (lãi su t một tháng là 4.125.000 ng) thì số tiền vốn gốc còn lại là 528.250.000 ng. Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho ến nay phía bị ơn vẫn không có thiện chí thanh toán số tiền ã vay cho nguyên ơn mà bỏ i khỏi nơi cư trú, không thông báo ịa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy ịnh của pháp luật về cư trú làm và cho nguyên ơn. Tòa án ã triệu tập ương sự ến Tòa tham gia phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị ơn vắng mặt nên không có căn cứ xác ịnh bà L ã thanh toán cho bà T số tiền 50.000.000 ng. Do bị ơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên ơn yêu cầu bà Phạm Thị Thu V và bà Lê Thị Mỹ L có trách nhiệm liên ới phải thanh toán số tiền vốn gốc còn lại là 528.250.000 ng là có căn cứ cần ch p nhận theo quy ịnh tại các Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 463, Điều 465, Điều 466 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4.2]. Đối với yêu cầu tính tiền lãi là 10%/năm tính từ ngày 25/5/2016 cho ến ngày xét xử. Theo quy ịnh tại Khoản 4 Điều 466 của Bộ luật dân sự quy ịnh “Trường h p vay không có lãi mà khi ến hạn bên vay không trả n hoặc trả không ầy ủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi su t theo quy ịnh tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường h p có thỏa thuận khác hoặc luật có quy ịnh khác” nên yêu cầu thanh toán tiền lãi su t của nguyên ơn là có căn cứ cần ch p nhận.
Cụ th số tiền lãi bà V và bà L phải thanh toán cho bà T từ ngày 25/5/2016 ến ngày xét xử (ngày 08/7/2021) với lãi su t 10%/năm như sau:
528.250.000 ng x 10%/năm x (05 năm + 01 tháng + 13 ngày) = 270.434.652 ng.
Tổng vốn và lãi: 528.250.000 ng + 270.434.652 ng = 798.684.652 ng.
Nguyên ơn cam kết số tiền mà bà cho bà V và bà L vay là tài sản của riêng của bà T không liên quan ến người khác và chỉ yêu cầu bà V , bà L có trách nhiệm liên ới thực hiện trả n mà không yêu cầu ai khác liên ới cùng bị ơn trả n . Do ó, buộc bà Phạm Thị Thu V và bà Lê Thị Mỹ L phải có trách nhiệm liên ới thanh toán cho bà Đặng Thị Hoài T tổng số tiền vốn và lãi tính từ ngày 25/5/2016 ến ngày 08/7/2021 là 798.684.652 ng (bảy trăm chín mươi tám triệu, sáu trăm tám mươi bốn ngàn, sáu trăm năm mươi hai ng), thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
. Ý kiến phát bi u và ề nghị của ại diện Viện ki m sát nhân dân Quận 8, Thành phố H Chí Minh là phù h p với nhận ịnh của Hội ng xét xử nên có căn cứ ch p nhận.
. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên ơn ư c ch p nhận nên căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy ịnh về án phí, lệ phí Tòa án thì bị ơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 357, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Khoản 2 Điều 468, Điều 469 và i m b Khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 208, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy ịnh tại Khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13.
Căn cứ vào Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội ng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy ịnh của pháp luật về lãi, lãi su t, phạt vi phạm;
Căn cứ vào Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy ịnh về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Hoài T.
- Buộc bà Phạm Thị Thu V và bà Lê Thị Mỹ L phải có trách nhiệm liên ới thanh toán một lần tổng số tiền vốn và lãi tính từ ngày 25/5/2016 ến ngày 08/7/2021 là 798.684.652 ng (bảy trăm chín mươi tám triệu, sáu trăm tám mươi bốn ngàn, sáu trăm năm mươi hai ng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Trong ó, tiền n vốn là 528.250.000 ng và tiền lãi su t là 270.434.652 ng.
K từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc k từ ngày có ơn yêu cầu thi hành án của người ư c thi hành án ( ối với các khoản tiền phải trả cho người ư c thi hành án) cho ến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy ịnh tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường h p pháp luật có quy ịnh khác.
2. n phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Thu V và bà Lê Thị Mỹ L phải chịu số tiền án phí là 35.947.386 (ba mươi lăm triệu, chín trăm bốn mươi bảy ngàn, ba trăm tám mươi sáu ng).
Bà Đặng Thị Hoài T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà T là 13.880.000 (mười ba triệu, tám trăm tám mươi ngàn ng) tiền tạm ứng án phí dân sự ã nộp theo biên lai thu số AC/2014/ 0009312 ngày 15/11/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố H Chí Minh.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Thời hạn kháng cáo ối với bản án của Tòa án c p sơ thẩm là 15 ngày, k từ ngày tuyên án; ối với ương sự, ại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính áng thì thời hạn kháng cáo ư c tính từ ngày họ nhận ư c bản án hoặc bản án ư c niêm yết.
4. Trường h p bản án, quyết ịnh ư c thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 ( ã sửa ổi, bổ sung năm 2014) thì người ư c thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 ( ã sửa ổi, bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án ư c thực hiện theo quy ịnh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 ( ã sửa ổi, bổ sung năm 2014)./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - Các ương sự; - Lưu h sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Tiến |